Phát huy giá trị văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số

Quảng Ninh có diện tích vùng núi, hải đảo và biên giới rộng nên từ nhiều thế kỷ nay là địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc anh em khác nhau. Mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa khác nhau, nhưng đều có một nét chung là lao động cần cù, chịu khó, phát huy thế mạnh truyền thống xây dựng vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo - những nơi khó khăn nhất của tỉnh.

Phụ nữ Sán Chỉ xã Hoành Mô thi đẩy gậy.
Phụ nữ Sán Chỉ xã Hoành Mô thi đẩy gậy.

Quảng Ninh có đặc trưng gồm nhiều loại địa hình đồi núi và sông, suối (sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên, sông Ka Long…), là địa bàn cư trú của các tộc người Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay (gồm 2 nhóm Sán Chỉ và Cao Lan), Hoa… Đồng bào các dân tộc Quảng Ninh có đặc trưng về canh tác nông nghiệp, kinh tế tự nhiên, kinh tế phụ gia đình, phương tiện vận chuyển, nhà ở, trang phục, đồ gia dụng, công cụ lao động sản xuất truyền thống, nếp ăn, nếp ở, cách ăn mặc, tập tục chu kỳ đời người, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, văn học nghệ thuật dân gian... Cư dân sinh sống trong các thôn, xã, bản làng, biết khai phá làm ruộng bậc thang để canh tác nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, ngư nghiệp. Bên cạnh đó là sự biến đổi, giao thoa về văn hóa, bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nơi đây đã và đang dần bị mai một.

Quảng Ninh có 42 thành phần dân tộc (dân tộc thiểu số chiếm 12,31% dân số toàn tỉnh), cư trú ở hơn 85% diện tích của toàn tỉnh. Trong đó có 6 dân tộc có số lượng hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân tộc rõ nét. Ðó là các dân tộc: Kinh (Việt), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay (gồm 2 nhóm Sán Chỉ và Cao Lan), Hoa. Sự phong phú đó tạo ra một bản sắc văn hóa mang đậm nét dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc, đó là Tam Giáo đồng tồn, Tam Giáo đồng nguyên (Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo) cùng dạy con người ta phải chịu khó lao động, tu nhân, tích đức, hướng thiện, xây dựng gia đình, xã hội cùng phát triển.

Người Dao Thanh Phán xã Kỳ Thượng làm du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa vùng cao.
Người Dao Thanh Phán xã Kỳ Thượng làm du lịch cộng đồng từ bản sắc văn hóa vùng cao.

Quảng Ninh hiện nay còn có các dân tộc khác như: Nùng, Mường, Thái, Mông…, tuy nhiên số lượng không đông và không quần cư thành các bản làng tập trung. Nhìn chung, từ nhiều đời nay, các dân tộc trên địa bàn tỉnh đã sinh sống đoàn kết, gắn bó và tương trợ lẫn nhau tạo nên bức tranh văn hoá đa sắc tộc, thống nhất trong sự đa dạng.

Theo TS. Trần Quốc Hùng, giảng viên Học viện Dân tộc, văn hoá các dân tộc ở Quảng Ninh nổi bật ở tính đa dạng nhưng vẫn gắn kết chặt chẽ với môi trường sinh thái miền núi, trung du và ven biển. Mỗi tộc người như Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay… đều lưu giữ kho tàng phong tục, tiếng nói, dân ca, tri thức dân gian rất đặc sắc. Điểm chung là tính cộng đồng bền chặt, đời sống văn hoá gắn với lao động sản xuất và tín ngưỡng bản địa. Khi đặt trong tổng thể cùng văn hoá công nhân mỏ và văn hoá biển, nó đã tạo nên một bức tranh vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa bản địa vừa mở. Chính sự đan xen này làm nên bản sắc riêng, giàu sức sống của văn hoá Quảng Ninh.

Những năm qua, Quảng Ninh đã triển khai nhiều chiến lược bài bản để biến di sản văn hóa của đồng bào thành “tài sản” phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Cách thức phát huy giá trị di sản này được thể hiện rõ nét qua việc gắn kết di sản với phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng. Tỉnh chủ động nhận diện, kiểm kê và lập hồ sơ khoa học để bảo vệ các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, các lễ hội có nguy cơ mai một. Quảng Ninh tăng cường nguồn lực đầu tư cho các công trình văn hóa quy mô (như Trung tâm Văn hóa - Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc, mô hình nhà văn hóa dân tộc) nhằm tôn vinh và làm không gian sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào.

Đồng thời, phát triển sản phẩm OCOP từ nghề truyền thống và dược liệu, biến các tri thức dân gian độc đáo thành hàng hóa có giá trị kinh tế cao trên thị trường. Để di sản có sức sống lâu bền, Quảng Ninh chú trọng khơi dậy niềm tự hào trong thế hệ trẻ bằng cách đưa nội dung này vào giáo dục. Thay vì bảo tồn theo kiểu "đóng băng" di sản trong bảo tàng, Quảng Ninh đã chọn cách bảo tồn động, tức là để di sản sống ngay trong đời sống đương đại, tự nuôi sống mình thông qua du lịch và dịch vụ. Sự dịch chuyển từ hỗ trợ bảo tồn sang khai thác giá trị kinh tế mang bản sắc văn hóa chính là chìa khóa giúp người trẻ ở lại với bản làng và làm giàu từ chính vốn cổ của cha ông.

Những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Ninh hoàn toàn có thể trở thành “tài nguyên sống”, “biến di sản thành tài sản” cho du lịch nếu được khai thác đúng cách. Cũng theo TS. Trần Quốc Hùng, điều cốt lõi là chuyển từ trưng bày sang trải nghiệm, để du khách tham gia trực tiếp vào hát dân ca, lễ tục, ẩm thực và sinh hoạt thường ngày của cộng đồng. Cần xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng theo từng tộc người, gắn với không gian bản địa thay vì làm đại trà. Đồng thời, phải đảm bảo lợi ích quay trở lại với người dân, để họ trở thành chủ thể gìn giữ và phát huy văn hoá. Khi cân bằng được giữa bảo tồn và khai thác, du lịch sẽ góp phần làm “sống lại” di sản một cách bền vững. Những giá trị văn hoá đặc sắc đó đang được gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị, góp phần phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng tỉnh Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp, văn minh, nghĩa tình.

Có thể bạn quan tâm