Về tấm bia đá ở chùa Hồ Thiên

Chùa Hồ Thiên nằm trên núi Phật Sơn, thuộc phường Bình Khê. Theo các tư liệu văn bia, chùa Hồ Thiên được xây dựng từ thời Trần (thế kỷ 13-14), cùng với Quỳnh Lâm là hai trong những ngôi chùa lớn của Hải Đông. Cho tới giữa thế kỷ 18, chùa Hồ Thiên vẫn là một ngôi chùa lớn, được triều đình quan tâm tu bổ. Cuối thế kỷ 18, chùa đã bị một trận hỏa hoạn lớn đến mức tàn lụi.

Dấu tích cho các nhà nghiên cứu đưa ra giả thiết trên là trên những chân cột bằng đá đường kính hơn 70cm của chùa còn sót lại có những vết nứt vỡ hóa vôi bởi bị lửa nung nóng. May mắn là chùa còn lưu giữ được một số di vật đá. Trong đó đáng kể nhất là tấm bia đá dựng năm Vĩnh Hữu thứ hai, đời vua Lê Ý Tông (1736) có tên “Trùng tu Trù Phong bi ký” (Bia ghi lại việc trùng tu chùa Trù Phong - tức chùa Hồ Thiên). Bia cao hơn 2m, rộng 1,4 m, dày 0,43m, trên trán và diềm bia chạm nổi hình rồng, phượng, mây lá, qua gần 300 năm, nhưng nét chữ trên bia (chữ Hán) vẫn sắc nét, dễ đọc. Đây là bia đá cổ có kích thước lớn thứ hai hiện có ở Quảng Ninh, sau bia đá chùa Quỳnh Lâm.

Bia đá
Bia đá "Trùng tu Trù Phong bi ký" ở chùa Hồ Thiên không chỉ lưu giữ các tư liệu quý, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật thời Lê. (Ảnh chụp năm 2017)

Lược dịch bài văn bia (GS Phan Văn Các, Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa) như sau:

"Ngọn núi đôi nổi tiếng miền Đông là thắng cảnh bậc nhất trong thiên hạ… Động Trù Phong sừng sững, nhấp nhô góp dồn xe biếc, bao đỉnh núi bao quanh, bao suối khe uốn lượn… Chỉ có nhà Trần xưa vốn tôn sùng đạo Phật, từng mở núi san nền nơi đây, xây tam cấp, dựng bảo tháp năm tầng, hệt như phép màu cất cánh bay lên, rỡ ràng vẻ đẹp hùng vĩ…

Kính nghĩ: Thánh thượng Đại nguyên soái, Thống quốc chính, Thượng sư Thái phụ, Thống đức anh nghị thánh công (tức chúa Trịnh Giang - TM) uy vương tiếp nối, nền núi yên bình, miền Đông thần phục, đạo sánh tày trời đất… theo vết tuần giá khi xưa mà thả thuyền đến phương xa, gậy trời tô điểm, cửa núi sinh sắc mà thêm phần hoành tráng. Nhà vua cho đem những tế khí lớn đến cúng, bèn tiến hành trang điểm dọc ngang, in hình mặt trời lên cửa sổ tròn, ôm lấy hoa văn. Công việc hoàn thành trước sau không vội vã… Cột sơn kèo vẽ vút lên mây… nhà hồng cung sen đẹp đẽ, tráng lệ, dáng vàng tướng ngọc nghiêm trang yên ổn. Vương đã cáo với tổ tông. Vương đã cáo với tổ tông, sai ghi vào giá cheo chuông làm mục văn ghi lại việc đó.

… Kính nghĩ… Thánh triều quan tâm đến dư đồ bốn biển, tất cương thổ được vẻ vang rạng rỡ, sáng tỏ khắp trời đất, nuôi nấng quần sinh… giúp mọi sinh linh trên cõi thọ, công đức ấy há phải là hạn hẹp ru?... Bốn mùa mưa nắng thuận hòa, năm năm ngô lúa được mùa, muôn năm đặt vững âu vàng, nước nhà vững bền mãi mãi, đó là điềm lành ắt như vậy.

Chúng thần bội phần nghiêm kính, vui vẻ mừng buổi khánh thành, kính cẩn khắc vào bia đá để tỏ rõ đến vô cùng".

Những người chịu trách nhiệm vào soạn thảo nội dung văn bia, chỉ đạo dựng bia đều giữ những trọng trách lớn trong triều, tương đương với hàm bộ trưởng, thứ trưởng bây giờ. "Ngày lành tháng Giêng, năm Hoàng triều Vĩnh Hựu thứ hai. Tham tụng Thượng thư Bộ Hộ, kiêm Thượng thư Bộ Binh, Thiếu phó Quận công Nguyễn Huy Nhuận đồng phụng nhuận. Tham tụng Thượng thư Bộ Lễ, kiêm Đông Các học sĩ tri Hàn lâm viện sự Bảo Thuận Quận công Phạm Khiêm Ích đồng phụng nhuận. Thượng thư Bộ Công Lâm Quận công Cao Huy Trác đồng phụng soạn. Hàn Lâm viện đãi chế tri Thị nội Thư tả hình phiên Nguyễn Trác Luân đồng phụng soạn. Đồ hình giám sát ngự sử tri Thị nội Thư tả hình phiên Nguyễn Vi đồng phụng soạn. Thị cận thi Nội giám ti Lễ giám Đô đại giám Thiêm tri Thị nội Thư tả hộ phiên Đình trung hầu Vũ Đức Vượng phụng áp tác".

Một trong số các chân cột ở chùa Hồ Thiên có hiện tượng nứt vỡ do lửa nung- dấu tích của một trận hỏa hoạn lớn từng xảy ra với chùa Hồ Thiên.
Một trong số các chân cột ở chùa Hồ Thiên có hiện tượng nứt vỡ do lửa nung- dấu tích của một trận hỏa hoạn lớn từng xảy ra với chùa Hồ Thiên.

Trong lịch sử các chúa Trịnh cai trị Đàng Ngoài, Trịnh Giang (1711-1762) là vị chúa Trịnh thứ sáu thời Lê Trung hưng, giữ ngôi chúa từ năm 1729 đến năm 1740, được các tư liệu lịch sử ghi chép là vị chúa "bỏ bê triều chính, ăn chơi". Ngoài cuộc đại trùng tu chùa Hồ Thiên như nói ở trên, sử chép Trịnh Giang còn cho xây nhiều cung quán, như Hành cung Quế Trạo, Từ Dương, phủ đệ ở các làng ngoại Tử Dương, Mi Thử, khiến quốc khố cạn kiệt. Để bù lại, triều đình tăng các loại thuế, khiến nhân dân cơ cực, mất mùa đói kém, nảy sinh nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi.

Năm 2018, cùng với tháp đá 7 tầng và nhiều công trình khác, nhà bia chùa Hồ Thiên được dựng lại. Đáng mừng là dù đổ nhiều năm nhưng các bức tường, kèo, mái đá vẫn nguyên vẹn, không bị gãy nên việc phục dựng như ban đầu khá dễ dàng. Nhà bia có mặt bằng hình chữ nhật, dài 3,30m, rộng 2,95m, cao 3,10m. Tường trước nhà bia được ghép bằng 4 tấm, tường đầu hồi 5 tấm và tường phía sau 6 tấm đá, kích thước các tấm khác nhau. Các tấm đá được khớp nối với nhau bằng hệ mộng rất chuẩn xác, phần khớp nối liền kín không một khe hở. Chùa Hồ Thiên là ngôi chùa duy nhất ở Quảng Ninh có nhà bia bằng đá đặc biệt như vậy.

Nhà bia chùa Hồ Thiên kết cấu hoàn toàn bằng các phiến đá xẻ ghép lại. Ảnh chụp năm 2017.
Nhà bia chùa Hồ Thiên kết cấu hoàn toàn bằng các phiến đá xẻ ghép lại. Ảnh chụp năm 2017.

Hai bên cột giả phía trước nhà bia có đôi câu đối chữ Hán: "Pháp truyền Đông Thổ, thiên thu đạo đức tường minh. Thụy hiệu Nam Thiên, vạn tải ân quang phổ chiếu" (Phép Phật truyền đến miền Đông, đạo đức ngàn năm còn sáng mãi. Điềm lành hiện ở trời Nam, ân đức muôn đời ban rộng khắp). Phía sau nhà bia có hai chữ "Huy song" (Cửa sáng). 

Như trên đã nói, chúa Trịnh Giang dù bỏ bê triều chính nhưng, rất sùng đạo. Cuộc đại trùng tu chùa Hồ Thiên năm 1736, ngoài chùa Hồ Thiên còn có chùa Quỳnh Lâm, Hương Hải. Các chùa hầu hết ở trên núi nên việc vận chuyển vật liệu hẳn là tốn rất nhiều công sức, của cải, đến mức phải huy động dân phu của nhiều huyện như Thủy Đường, Hiệp Sơn, Kim Thành, Đông Triều... 

Văn bia “Trùng tu Trù Phong bi ký” bởi vậy, ngoài việc ca ngợi vẻ đẹp cảnh chùa, còn là một tư liệu quý về lịch sử đương thời. 

Có thể bạn quan tâm