Bên cạnh công tác giảng dạy, Tiến sĩ Trần Quốc Hùng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy văn hóa Sán Dìu Việt Nam, giảng viên Học viện Dân tộc, là người chuyên tâm nghiên cứu văn hóa Sán Dìu cũng như văn hóa các dân tộc Quảng Ninh. Anh cũng là người con dân tộc Sán Dìu của quê hương Quang Hanh (Quảng Ninh), đã có nhiều đóng góp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Nhân dịp Tiến sĩ Trần Quốc Hùng có chuyến công tác trở về quê hương, phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện với anh.
- Chúng tôi được biết, Tiến sĩ vừa tham dự Lễ hội Đại phan ở Quảng Ninh. Về ý nghĩa của lễ hội này, tôi thấy còn nhiều ý kiến khác nhau chưa đi đến thống nhất, vậy quan điểm của ông như thế nào về vấn đề này?
+ Đại phan là một trong những nghi lễ lớn nhất của đồng bào Sán Dìu. Đến nay, đánh giá về ý nghĩa của lễ hội đại phan còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa thực sự thống nhất đến từ các nhà khoa học cũng như cộng đồng dân tộc Sán Dìu. Tuy nhiên, các ý kiến đều thống nhất ở chỗ Đại phan là lễ hội lớn vì trong lễ hội có cây phan (cây tre) lớn nhất được dựng lên (giống người Kinh dựng cây nêu). Cây tre lớn hay cây tre chủ có vai trò kết nối giữa thế giới thần linh và thế giới con người của cộng đồng dân cư Sán Dìu. Đại phan tập hợp rất nhiều nghi lễ, trong đó có lễ cầu an cho cộng đồng dân cư, cầu thọ, cầu tài, cầu lộc và lễ cầu siêu cho những linh hồn đã khuất.
- Trong những Lễ hội Đại phan vừa tổ chức dịp đầu năm, hoạt động hát soọng cô đã làm cho không khí lễ hội của người Sán Dìu thêm vui tươi hơn. Tiến sĩ nghĩ sao về việc đưa hát soọng cô vào lễ hội?
+ Trong Lễ hội Đại phan xưa kia không có hát soọng cô. Từ năm 2008, ngành văn hóa phục dựng lễ hội đã tích hợp loại hình diễn xướng dân gian hát sọong cô vào để tạo ra sự sinh động cho lễ hội. Có thể nói, tỉnh Quảng Ninh của chúng ta là tỉnh giáp biên, có vùng biển đảo rộng lớn nên trong nội dung những bài chúc ca soọng cô của người Sán Dìu ngoài những câu hát đối đáp giao duyên ca ngợi quê hương, đất nước thì còn có những bài ca lao động sản xuất, đi biển, đi rừng, nói về biên cương, hải đảo. Tôi nhận thấy đây là những nội dung rất khác biệt so với hát sọong cô của đồng bào Sán Dìu ở các tỉnh phía Bắc như: Bắc Ninh, Tuyên Quang và Phú Thọ.
- Có nhiều loại hình hát soọng cô nhưng hát trong đám cưới của người Sán Dìu có lẽ là đặc sắc nhất phải không thưa Tiến sĩ ?
+ Mỗi dân tộc có nét đặc sắc riêng trong phong tục cưới hỏi. Trước tiên nói về hệ thống dòng họ 2 bên với người Kinh hay nói ngắn gọn là quan viên hai họ còn người Sán Dìu lại quan niệm là 6 đầu họ. 6 đầu họ này gồm 3 đầu họ bên phía nhà chú rể là họ nhà ông nội chú rể, họ bà nội chú rể, họ nhà mẹ đẻ của chú rể. Tương tự, bên phía cô dâu có họ nhà ông nội cô dâu, họ nhà bà nội cô dâu, họ nhà mẹ đẻ cô dâu.
Nét đặc sắc nhất trong đám cưới là những câu hát giao duyên của hai bên cầu chúc và chứng kiến cho đôi trẻ nên duyên vợ chồng. Hát sọng cô có nhiều như hát chắn cổng khi mà nhà trai đến nhà gái thử thách tài hát đối đáp, hát mở cửa mời rượu cho nhà trai vào nhà đón dâu v.v. Một trong những nét đặc sắc nữa là anh trai của cô dâu sẽ cõng cô dâu ra khỏi cửa với quan niệm là đã gả đi rồi thì hồn vía của người con gái ấy về nhà chồng, buồn vui sướng khổ gì cũng về nhà chồng hết.
Về tâm linh sau này có chết đi cũng không làm ma trở về nhà đẻ được nữa. Về đời sống văn hóa nhân sinh thì có ý nghĩa là xuất giá tòng phu cầu mong em, hỗ trợ em an nhàn, hạnh phúc hơn khi về nhà chồng. Do đó, soọng cô là biểu hiện rõ nét của bản sắc văn hóa Sán Dìu, gắn liền với đời sống tinh thần cộng đồng. Môi trường sống đặc trưng giúp việc gìn giữ nghệ thuật hát soọng cô trở nên dễ dàng và bền vững.
- Tôi thấy đồng bào Sán Dìu ở Vân Đồn, Tiên Yên hay Hoành Bồ có những bộ trang phục chưa thống nhất. Theo Tiến sĩ , đâu là nguyên nhân tạo ra sự chưa thống nhất trong bộ trang phục đặc trưng nhất của đồng bào Sán Dìu hiện nay?
+ Có thể nói, trang phục truyền thống của người Sán Dìu Quảng Ninh khá đa dạng. Và trang phục này cũng có màu sắc khác so với dân tộc Sán Dìu sinh sống ở các tỉnh phía Bắc. Theo tôi, có thể dân tộc Sán Dìu Quảng Ninh sống quần cư với dân tộc Hoa cho nên có thể có một vài chi tiết nhỏ giống với trang phục của đồng bào người Hoa. Không chỉ riêng trang phục mà cả những phong tục của người Sán Dìu cũng cho thấy rõ bản sắc trong việc coi trọng gia đình - tổ tiên - cộng đồng, cùng khả năng hòa hợp giữa truyền thống và đời sống hiện đại. Đây là minh chứng cho sức sống bền bỉ của tri thức dân gian trong việc định hình nhân sinh quan và đạo lý của cộng đồng Sán Dìu ở Quảng Ninh.
- Được biết, anh có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá Sán Dìu ở Quảng Ninh. Anh đánh giá như thế nào về công trình nhà cộng đồng của người Sán Dìu ở Đặc khu Vân Đồn trong việc bảo tồn di sản văn hoá, nhất là vấn đề phát huy trong khai thác du lịch trải nghiệm văn hoá, du lịch cộng đồng?
+ Nhà cộng đồng của người Sán Dìu ở Vân Đồn là một thiết chế văn hoá có ý nghĩa, vì nó tái tạo được không gian gốc để bảo tồn, phát huy và truyền dạy di sản sống. Giá trị lớn nhất không nằm ở kiến trúc mà ở khả năng kích hoạt các thực hành, biểu đạt văn hoá như hát soọng cô, lễ nghi và tri thức dân gian của người Sán Dìu… Tôi cho rằng nếu được vận hành đúng, đây sẽ là “hạt nhân” kết nối bảo tồn với sinh kế thông qua du lịch trải nghiệm. Tuy nhiên, cần đặt cộng đồng tộc người Sán Dìu làm chủ thể, tránh thương mại hoá làm biến dạng bản sắc. Tôi cho rằng, mô hình này có tiềm năng trở thành điểm nhấn đặc trưng cho du lịch văn hoá bản địa ở Đặc khu Vân Đồn.
- Như anh đã biết, về mô hình nhà văn hóa cộng đồng của các dân tộc khác, mới đây, xã Ba Chẽ cùng với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Dân tộc - Tôn giáo đã được tỉnh đồng ý về chủ trương xây dựng Khu bảo tồn văn hoá các dân tộc Quảng Ninh, trên cơ sở mở rộng công trình sẵn có tại thôn Sơn Hải. Từ góc độ cán bộ nghiên cứu văn hoá dân tộc, Tiến sĩ đánh giá như thế nào về chủ trương này?
+ Đây là một chủ trương đúng hướng, thể hiện tầm nhìn dài hạn của tỉnh Quảng Ninh trong việc bảo tồn đa dạng văn hoá các dân tộc ở Quảng Ninh. Việc phát triển trên nền tảng công trình sẵn có tại thôn Sơn Hải giúp tiết kiệm nguồn lực và giữ được tính kế thừa. Tuy nhiên, theo tôi cần tránh cách làm “bảo tàng hoá” khô cứng, mà phải tạo được không gian văn hoá sống, có sự tham gia thực chất của cộng đồng với vai trò là chủ thể văn hóa. Nếu gắn kết tốt với giáo dục và du lịch trải nghiệm, khu bảo tồn sẽ phát huy hiệu quả kép cả về văn hoá và kinh tế. Tôi cho rằng, yếu tố then chốt vẫn là cơ chế vận hành linh hoạt và trao quyền cho chính người dân địa phương.
- Được biết, ngoài việc nghiên cứu văn hoá Sán Dìu, Tiến sĩ còn là tác giả hoặc đồng tác giả của một số công trình nghiên cứu về các dân tộc Quảng Ninh. Vậy theo anh, văn hoá các dân tộc Quảng Ninh có những đặc điểm gì nổi bật nhất để cùng với văn hoá công nhân mỏ và văn hoá biển hợp thành tính đa dạng của văn hoá Quảng Ninh?
+ Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận định “Quảng Ninh là hình ảnh nước Việt Nam thu nhỏ”, văn hoá các dân tộc ở Quảng Ninh nổi bật ở tính đa dạng nhưng vẫn gắn kết chặt chẽ với môi trường sinh thái miền núi, trung du và ven biển. Mỗi tộc người như Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay… đều lưu giữ kho tàng phong tục, tiếng nói, dân ca, tri thức dân gian rất đặc sắc. Điểm chung là tính cộng đồng bền chặt, đời sống văn hoá gắn với lao động sản xuất và tín ngưỡng bản địa. Khi đặt trong tổng thể cùng văn hoá công nhân mỏ và văn hoá biển, nó tạo nên một bức tranh vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa bản địa vừa mở. Chính sự đan xen này làm nên bản sắc riêng, giàu sức sống của văn hoá Quảng Ninh.
- Theo Tiến sĩ, những nét văn hoá độc đáo đó có thể khai thác làm tài nguyên cho du lịch cộng đồng, du lịch văn hoá ở Quảng Ninh như thế nào?
+ Những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Ninh hoàn toàn có thể trở thành “tài nguyên sống”, “biến di sản thành tài sản” cho du lịch nếu được khai thác đúng cách. Cốt lõi là chuyển từ trưng bày sang trải nghiệm, để du khách tham gia trực tiếp vào hát dân ca, lễ tục, ẩm thực và sinh hoạt thường ngày của cộng đồng. Cần xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng theo từng tộc người, gắn với không gian bản địa thay vì làm đại trà. Đồng thời, phải đảm bảo lợi ích quay trở lại với người dân, để họ trở thành chủ thể gìn giữ và phát huy văn hoá. Khi cân bằng được giữa bảo tồn và khai thác, du lịch sẽ góp phần làm “sống lại” di sản một cách bền vững.
- Cảm ơn Tiến sĩ về cuộc trò chuyện!