Nếp nhà người Tày không chỉ kết tinh tri thức dân gian được truyền đời, mà còn là không gian văn hóa sống, nơi ký ức và phong tục lặng lẽ được gìn giữ, trao truyền qua bao thế hệ giữa nhịp đổi thay của bản làng.
Không chỉ gây ấn tượng bởi dáng vẻ mộc mạc, hài hòa với núi rừng, nhà Tày còn chứa đựng cả một hệ giá trị văn hóa sống động. Từ góc nhìn nghiên cứu, Thạc sĩ Tô Đình Hiệu (Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ xã Bình Liêu), người có nhiều nghiên cứu về văn hóa các dân tộc, cho rằng giá trị của nhà Tày không chỉ nằm ở kiến trúc bên ngoài mà còn ở những tập quán, quan hệ gia đình và tri thức dân gian được nuôi dưỡng trong không gian ấy. Tất cả góp phần tạo nên nét đặc sắc của nếp nhà người Tày.
Theo khảo sát của ông Hiệu tại các bản người Tày ở Bình Liêu như Pắc Liềng, Bản Ngày, Nà Làng, Chang Nà cũng như một số thôn, bản khác, nhà truyền thống vẫn hiện diện giữa ruộng, núi và suối. Nhà thường dựng ở chân núi, gần nguồn nước, quay hướng Nam hoặc Đông Nam, sử dụng vật liệu tại chỗ như đất, đá, tre, gỗ, thể hiện kinh nghiệm thích ứng với môi trường miền núi.
Cái đẹp của nhà người Tày không ở sự cầu kỳ, mà ở tỷ lệ vừa phải, vật liệu gần gũi, cảm giác “thuận đất, thuận người”. Nói đến nếp nhà cũng là nói đến nếp bản. Bước qua ngưỡng cửa, những lớp văn hóa hiện rõ hơn. Nhà thường có ba gian hai chái, gian giữa là vị trí trang trọng đặt bàn thờ tổ tiên, đồng thời là nơi tiếp khách, diễn ra những nghi lễ quan trọng. Bàn thờ như “mốc neo” nhắc con cháu nhớ về cội nguồn, phép tắc, trách nhiệm với dòng họ.
Nếu bàn thờ giữ phần “gốc” thì bếp lửa giữ phần “ấm” của ngôi nhà. Với người Tày, bếp là “hồn nhà”, nơi gia đình quây quần bên bữa cơm, chuyện trò sau ngày lao động, người già truyền dạy con cháu. Khi chuyển sang nhà mới, nhiều gia đình vẫn giữ tục mang lửa từ nhà cũ sang, như mang theo hơi ấm, may mắn và sự tiếp nối ký ức.
Ngay cả cách bố trí phòng ngủ, cửa ra vào, cầu thang cũng phản ánh quy ước gia đình, như “bản đồ xã hội thu nhỏ” về quan hệ các thế hệ. Dựng nhà xưa là việc chung của họ hàng, bà con, từ chuẩn bị vật liệu đến dựng khung, lợp mái đều cùng chung tay. Mỗi ngôi nhà hoàn thành là một lần tình làng nghĩa xóm được bồi đắp. Vì vậy, giữ nhà truyền thống chính là giữ môi trường nuôi dưỡng văn hóa.
Song nếp nhà ấy đang đứng trước nhiều đổi thay. Nhà bê tông, mái tôn xuất hiện ngày càng nhiều; không ít nhà cũ được cải tạo để đáp ứng nhu cầu tiện nghi, an toàn. Đó là nhu cầu chính đáng. Vấn đề là nếu chỉ chú trọng vật liệu và công năng mà bỏ qua cấu trúc, dáng mái, không gian bếp, bàn thờ thì bản sắc nhà Tày có thể nhạt dần.
Bảo tồn vì thế không thể là “đóng băng” đời sống. Theo ông Hiệu, cần xác định những giá trị cốt lõi để vừa nâng cao điều kiện sống, vừa giữ được tinh thần của nhà truyền thống. Nhà có thể dùng vật liệu mới nhưng vẫn giữ dáng, gian thờ và không gian chung; bản làng có thể đổi thay nhưng vẫn cần hài hòa với ruộng đồng, cảnh quan.
Những nếp nhà còn được gìn giữ có thể trở thành điểm tựa cho du lịch cộng đồng nếu khai thác hợp lý. Tại hội thảo về phát triển du lịch gắn với văn hóa bản địa xã Bình Liêu tháng 12/2025, PGS.TS. Phạm Hồng Long (chuyên gia từ Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, bảo tồn nhà Tày cần theo hướng thích ứng, không “đóng băng” nguyên trạng. Cần giữ kiến trúc truyền thống nhưng linh hoạt cải tạo không gian bên trong, đồng thời duy trì bếp lửa và nếp sinh hoạt thường ngày để ngôi nhà tiếp tục là không gian văn hóa sống.
Có thể thấy, nếu được gìn giữ, bảo tồn đúng cách, không gian văn hóa trong nhà người Tày còn mang sức hút riêng, phản ánh sinh động đời sống bản làng. Từ đó, du khách có thể tìm hiểu bếp lửa, ẩm thực, hát Then và tri thức bản địa. Quan trọng hơn, ngôi nhà phải là nơi người dân sinh sống và thực hành văn hóa thật, không trở thành “phông nền” cho du lịch. Giữa những bản làng đổi thay, điều cần giữ không chỉ là mái ngói hay bức tường, mà là bếp lửa, bàn thờ, gia phong và những câu chuyện truyền đời. Khi những giá trị ấy còn, nếp nhà người Tày vẫn giữ được hồn cốt giữa nhịp sống mới.