Công nghiệp, nhất là chế biến, chế tạo, đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành phố Quảng Ninh. Sự gia tăng sản lượng tại các nhà máy, những dự án mới đi vào hoạt động và dòng vốn đầu tư chất lượng cao đang mở rộng năng lực sản xuất, đóng góp ngày càng rõ nét vào GRDP. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và nâng cao giá trị gia tăng, thành phố cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về mặt bằng, hạ tầng, lao động và công nghiệp hỗ trợ.
Những dây chuyền sản xuất tại Khu công nghiệp (KCN) Đông Mai đang vận hành ổn định, tạo ra các sản phẩm thiết bị y tế phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Từ khi chính thức sản xuất năm 2022, Công ty TNHH Intco Medical Technology Việt Nam từng bước mở rộng quy mô, gia tăng sản lượng các mặt hàng như túi chườm nóng lạnh, miếng dán điện cực tim, khẩu trang y tế, miếng dán nhiệt, găng tay PE. Giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp từ mức 300.000 USD/tháng ban đầu đã tăng lên khoảng 1,5 triệu USD/tháng.
Đằng sau sự gia tăng ấy là quá trình mở rộng thị trường, thu hút đơn hàng và nâng cao năng lực sản xuất. Doanh nghiệp đặt mục tiêu duy trì giá trị xuất khẩu ổn định trên 2 triệu USD/tháng trong quý IV/2026, qua đó bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Đây là một ví dụ cho thấy đóng góp của công nghiệp không chỉ thể hiện ở thời điểm một nhà máy được khánh thành, mà còn ở khả năng duy trì sản xuất, mở rộng thị trường và tăng giá trị hàng hóa theo thời gian.
Còn tại KCN Hải Hà, ngày 6/10/2026, Nhà máy sản xuất vải mộc, vải nhuộm Wellrain chính thức được khánh thành. Dự án có tổng vốn đầu tư 381 tỷ đồng, tương đương 15 triệu USD, được triển khai trên diện tích khoảng 25.638m², công suất thiết kế khoảng 42 triệu m² vải/năm, tương đương 8.400 tấn vải nhuộm màu/năm. Sau hơn một năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư lần đầu, dự án đã hoàn thành xây dựng, đưa nhà máy vào hoạt động.
Sự hiện diện của Wellrain bổ sung năng lực sản xuất trong lĩnh vực dệt may, đồng thời tạo thêm điều kiện kết nối với hệ sinh thái doanh nghiệp tại KCN Texhong - Hải Hà. Khi nhà máy vận hành ổn định, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết sản xuất, giá trị của dự án sẽ được thể hiện rõ hơn qua sản lượng, việc làm và đóng góp vào chuỗi cung ứng của ngành dệt may.
Những câu chuyện từ Intco Medical và Wellrain phản ánh một chuyển động đáng chú ý của công nghiệp Quảng Ninh: năng lực sản xuất mới đang từng bước được hình thành, trong khi các nhà máy hiện hữu tiếp tục mở rộng quy mô và thị trường. Đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng tạo nên kết quả tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 9 tháng năm 2026.
9 tháng năm 2026 GRDP của thành phố tăng 12,54%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 14,02%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,28%. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,67%, tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Kết quả này cho thấy vai trò ngày càng rõ của khu vực sản xuất công nghiệp mới trong cơ cấu tăng trưởng, bên cạnh những ngành truyền thống như khai khoáng và sản xuất điện.
Nhìn lại giai đoạn 2021-2025, công nghiệp chế biến, chế tạo đã có bước phát triển mạnh. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành đạt trên 21%/năm; quy mô GRDP tăng từ hơn 26.000 tỷ đồng năm 2021 lên gần 48.800 tỷ đồng năm 2025. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, ngành tiếp tục tăng trưởng 28,7%, chiếm 13,5% trong cơ cấu GRDP. Trong giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực này thu hút gần 217.000 tỷ đồng vốn đầu tư, tương đương khoảng 8,98 tỷ USD, đồng thời tạo thêm trên 30.000 việc làm mới so với năm 2020.
Các con số cho thấy chế biến, chế tạo đang dần định hình vị thế mới trong nền công nghiệp thành phố. Nếu trước đây hoạt động công nghiệp chủ yếu gắn với khai thác tài nguyên và các ngành công nghiệp nặng, thì hiện nay cơ cấu sản xuất ngày càng đa dạng với sự phát triển của thiết bị điện, dệt may, sản xuất và chế biến thực phẩm, điện tử, cơ khí chính xác, ô tô và công nghiệp hỗ trợ. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo thêm giá trị gia tăng, mở rộng việc làm và tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng.
Cùng với các doanh nghiệp đã hoạt động, những dự án mới đi vào sản xuất đang bổ sung thêm nguồn lực cho ngành. Trong 9 tháng năm 2026, có 8 doanh nghiệp mới quy mô lớn và 13 dự án đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một số dự án tập trung vào các sản phẩm điện tử, linh kiện, module màn hình, máy tính, thiết bị điện, vải dệt và sợi. Riêng các dự án theo kế hoạch năm 2026, thành phố đã hoàn thành mục tiêu đưa 12/12 dự án vào sản xuất, kinh doanh.
Từ những nhà máy đang vận hành đến các dự án mới, có thể thấy công nghiệp chế biến, chế tạo đang tạo ra lực kéo ngày càng rõ đối với tăng trưởng GRDP. Tuy nhiên, để lực kéo này được duy trì, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút thêm vốn đầu tư, mà còn phải bảo đảm dự án triển khai đúng tiến độ, nhà máy sớm sản xuất thương mại, hoạt động ổn định và từng bước nâng công suất. Đó là quá trình chuyển hóa dòng vốn thành năng lực sản xuất thực tế, tạo ra sản phẩm, việc làm, giá trị xuất khẩu và nguồn thu cho nền kinh tế.
Sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo gắn chặt với quá trình hình thành và mở rộng hệ thống khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Đây là không gian tập trung hạ tầng, nhà máy, lao động và các dịch vụ phục vụ sản xuất; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp liên kết, hình thành chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thành phố hiện có 27 KCN trong quy hoạch được phê duyệt. Trong đó, 11 KCN đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thành lập với tổng diện tích khoảng 6.299ha; 8 KCN đã đi vào hoạt động, 3 KCN đang hoàn thiện các thủ tục pháp lý. Việc đầu tư hạ tầng, chuẩn bị quỹ đất sạch và hoàn thiện kết nối giao thông được xác định là những điều kiện quan trọng để nâng cao sức hấp dẫn của các KCN, KKT.
Trong cấu trúc không gian công nghiệp đang hình thành, mỗi khu vực từng bước định vị những nhóm ngành sản xuất có thế mạnh. KCN Việt Hưng gắn với công nghiệp ô tô và xe điện; các KCN Đông Mai, Sông Khoai, Bắc Tiền Phong thu hút lĩnh vực điện tử, linh kiện; KCN Texhong Hải Hà phát triển dệt may. Cách tổ chức sản xuất theo hướng tập trung, chuyên sâu giúp doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận hạ tầng đồng bộ, thuận lợi trong kết nối logistics, tuyển dụng lao động và tìm kiếm đối tác cung ứng.
KKT ven biển Quảng Yên đang nổi lên như một cực phát triển công nghiệp mới. Với hệ thống các KCN Sông Khoai, Bắc Tiền Phong, Nam Tiền Phong, Bạch Đằng cùng những dự án hạ tầng tiếp tục được triển khai, khu vực này được định hướng thu hút công nghiệp sạch, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và đổi mới sáng tạo. Đến tháng 8/2026, các KCN trong KKT Quảng Yên đã thu hút 66 dự án với tổng vốn đăng ký gần 7 tỷ USD.
Cùng với các KCN, mạng lưới cụm công nghiệp đang được mở rộng nhằm bổ sung mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, từng bước đưa các cơ sở sản xuất phân tán vào khu vực tập trung. Đến tháng 9/2026, thành phố có 22 cụm công nghiệp, gồm 7 cụm đã đi vào hoạt động và 15 cụm đang triển khai đầu tư hạ tầng kỹ thuật hoặc chuẩn bị đầu tư. Trong 9 tháng, thành phố thành lập 6 cụm công nghiệp với tổng diện tích 363,27ha, khởi công 9 cụm với tổng diện tích 516,84ha. Tại 7 cụm đang hoạt động, có thêm 38 doanh nghiệp đầu tư với tổng vốn 1.027 tỷ đồng.
Những con số này phản ánh nỗ lực mở rộng không gian sản xuất, tạo thêm lựa chọn mặt bằng cho doanh nghiệp và chuẩn bị dư địa thu hút đầu tư trong những năm tiếp theo. Một số cụm công nghiệp hiện hữu có tỷ lệ lấp đầy cao, như Hà Khánh đạt 100%, Phương Nam đạt 93,5%, Cẩm Thịnh đạt 89%, Nam Sơn đạt 86,78% và Đông Mai đạt khoảng 73%. Nhu cầu thuê đất, nhà xưởng tại các cụm công nghiệp cho thấy vai trò của loại hình hạ tầng này trong hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, bổ sung các mắt xích sản xuất và dịch vụ cho hệ thống công nghiệp.
Không gian sản xuất mở rộng cũng tạo sức hút đối với dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, các KCN, KKT thu hút khoảng 49.664 tỷ đồng vốn đầu tư, gồm khoảng 15.847 tỷ đồng vốn trong nước và trên 1,303 tỷ USD vốn FDI, tương đương khoảng 33.817 tỷ đồng. Trong đó, có 26 dự án FDI cấp mới với tổng vốn gần 660 triệu USD và 21 dự án điều chỉnh tăng vốn trên 654 triệu USD. Kết quả thu hút FDI đạt 110,86% kế hoạch 9 tháng và 76,33% kế hoạch cả năm.
Tuy nhiên, hiệu quả phát triển KCN, KKT không thể chỉ đo bằng số lượng dự án được phê duyệt, diện tích quy hoạch hay tổng vốn đăng ký. Điều quan trọng là hạ tầng có được hoàn thiện đúng tiến độ, quỹ đất có sớm được bàn giao, nhà đầu tư thứ cấp có đi vào sản xuất và các doanh nghiệp có tạo ra giá trị thực tế hay không. Mỗi khu đất công nghiệp được đưa vào khai thác, mỗi tuyến giao thông kết nối được hoàn thiện, mỗi nhà máy đi vào vận hành đều có thể tác động trực tiếp đến năng lực sản xuất và đóng góp tăng trưởng.
Đối với cụm công nghiệp, yêu cầu này càng rõ. Trong số 8 cụm công nghiệp khởi công mới trong tháng 8/2026, tại thời điểm thành phố rà soát vào tháng 9, mới có một dự án được bàn giao toàn bộ mặt bằng. Những vướng mắc về giải phóng mặt bằng, vốn đầu tư và hạ tầng kết nối ảnh hưởng đến tiến độ san nền, thi công các hạng mục kỹ thuật và khả năng đưa quỹ đất vào khai thác. Vì vậy, mở rộng quy hoạch cần đi cùng năng lực tổ chức thực hiện, trách nhiệm của chủ đầu tư và sự phối hợp của các cơ quan liên quan.
Cùng với đó, việc lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng phải gắn với khả năng triển khai dự án đúng tiến độ, năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý vận hành và cam kết đầu tư hệ thống xử lý nước thải, thu gom chất thải, phòng cháy, chữa cháy. Hạ tầng bên trong hàng rào cần được kết nối đồng bộ với giao thông, điện, nước và các dịch vụ bên ngoài. Khi những điều kiện này được bảo đảm, KCN, cụm công nghiệp mới có thể phát huy đầy đủ vai trò là không gian sản xuất, thu hút doanh nghiệp và hình thành chuỗi liên kết.
Tốc độ tăng trưởng cao của công nghiệp chế biến, chế tạo trong 9 tháng năm 2026 tạo nền tảng tích cực cho mục tiêu tăng trưởng của thành phố. Tuy nhiên, những kết quả đạt được cũng đặt ra yêu cầu mới: làm thế nào để năng lực sản xuất tiếp tục được mở rộng, các dự án đầu tư phát huy hiệu quả, doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế địa phương.
Một trong những điểm nghẽn cần tháo gỡ là mặt bằng và tiến độ đầu tư hạ tầng. Đối với nhà đầu tư, quỹ đất sạch, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và khả năng kết nối giao thông là những điều kiện trực tiếp quyết định thời gian triển khai dự án. Nếu công tác giải phóng mặt bằng chậm, việc bàn giao đất không đồng bộ, các hạng mục điện, nước, giao thông ngoài hàng rào chưa hoàn thiện, tiến độ xây dựng nhà máy và đưa dây chuyền vào sản xuất sẽ bị ảnh hưởng.
Thực tế triển khai các dự án cụm công nghiệp cho thấy, trong số 8 cụm khởi công mới trong tháng 8/2026, mới có một dự án được bàn giao toàn bộ mặt bằng tại thời điểm rà soát giữa tháng 9. Với các dự án KCN, thành phố cũng phải tập trung tháo gỡ vướng mắc về nguồn gốc đất, hồ sơ địa chính, phương án bồi thường và tiến độ bàn giao mặt bằng. Đây là những công việc đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn và chủ đầu tư, bởi mỗi khâu chậm trễ đều có thể kéo dài thời gian hoàn thiện hạ tầng, làm chậm khả năng tiếp nhận dự án thứ cấp.
Điểm nghẽn thứ hai là thị trường và khả năng duy trì sản lượng. Kết quả 8 tháng năm 2026 cho thấy một số sản phẩm công nghiệp chủ lực chưa đạt kịch bản đề ra, dù tốc độ tăng trưởng chung của chế biến, chế tạo vẫn ở mức cao. Những biến động về nhu cầu, đơn hàng và thị trường xuất khẩu có thể tác động nhanh đến kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, nhất là với những ngành phụ thuộc vào thị trường bên ngoài. Vì vậy, bên cạnh hỗ trợ thủ tục và hạ tầng, cần quan tâm đến khả năng mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, nâng chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn của đối tác.
Đây cũng là lý do tăng trưởng công nghiệp cần được đánh giá trên cơ sở nhiều chỉ tiêu, không chỉ tốc độ tăng của một vài nhóm sản phẩm. Sản lượng, giá trị sản xuất, giá trị xuất khẩu, năng suất lao động, mức độ sử dụng công suất và khả năng duy trì đơn hàng đều phản ánh sức khỏe của doanh nghiệp. Một cơ cấu sản phẩm đa dạng hơn sẽ giúp nền công nghiệp giảm phụ thuộc vào một số mặt hàng, tăng khả năng thích ứng trước biến động thị trường và tạo nền tảng ổn định hơn cho tăng trưởng GRDP.
Điểm nghẽn thứ ba nằm ở chất lượng nguồn nhân lực. Khi các dự án điện tử, cơ khí chính xác, thiết bị điện, ô tô và công nghiệp công nghệ cao mở rộng, nhu cầu lao động không chỉ tăng về số lượng mà còn thay đổi về cơ cấu kỹ năng. Doanh nghiệp cần công nhân kỹ thuật, nhân lực vận hành thiết bị tự động, kỹ thuật viên bảo trì, nhân sự quản lý chất lượng và những vị trí có khả năng đáp ứng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế. Nếu nguồn cung lao động tại chỗ chưa theo kịp yêu cầu, doanh nghiệp sẽ phải tăng chi phí tuyển dụng, đào tạo hoặc tìm kiếm nhân lực từ địa phương khác.
Một điểm nghẽn có tính dài hạn khác là năng lực của công nghiệp hỗ trợ. Dù trên địa bàn đã hình thành nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực ô tô, cơ khí chế tạo, điện tử, thiết bị điện, thiết bị năng lượng và dệt may, khả năng cung ứng linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu, vật liệu tại chỗ vẫn còn hạn chế.
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải xây dựng mối liên kết thực chất hơn giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp đầu chuỗi với các doanh nghiệp trong nước. Khi các tập đoàn lớn đầu tư nhà máy tại Quảng Ninh, cơ hội không chỉ nằm ở số vốn đăng ký hay sản lượng của chính nhà máy đó, mà còn ở khả năng hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng linh kiện, phụ tùng, bao bì, vật liệu, dịch vụ kỹ thuật, logistics và bảo trì thiết bị. Nếu doanh nghiệp địa phương đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, tiến độ, công nghệ và tiêu chuẩn quản lý, giá trị tạo ra từ hoạt động sản xuất sẽ có khả năng lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.
Để giải quyết vấn đề này, thành phố đã ban hành Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, tập trung nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, tăng khả năng cung ứng tại chỗ và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp đầu chuỗi. Chương trình xác định 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: hoàn thiện cơ chế, chính sách và hạ tầng; hỗ trợ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng cơ sở dữ liệu; phát triển thị trường và liên kết doanh nghiệp.
Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu hình thành rõ 4 nhóm liên kết ngành công nghiệp hỗ trợ, gồm ô tô, cơ khí chế tạo và tự động hóa; điện tử, thiết bị điện, thiết bị năng lượng và công nghệ cao; dệt may, nguyên phụ liệu và vật liệu kỹ thuật; chế tạo linh kiện, sửa chữa thiết bị phục vụ ngành khai thác mỏ. Cùng với đó là mục tiêu thu hút, phát triển mới từ 50-100 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tập trung vào những sản phẩm có khả năng thay thế hàng nhập khẩu như chi tiết cơ khí chính xác, khuôn mẫu, linh kiện ô tô, dây dẫn, nhựa kỹ thuật, cảm biến, thiết bị điều khiển, nguyên phụ liệu dệt may và bao bì xanh.
Đây là hướng đi có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng tăng trưởng công nghiệp. Khi doanh nghiệp trong nước nâng được năng lực cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa có điều kiện tăng lên, sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từng bước được giảm bớt, đồng thời tạo thêm cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất. Giá trị gia tăng vì thế không chỉ tập trung ở doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mà có thể lan tỏa tới mạng lưới doanh nghiệp địa phương.
Cùng với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, thành phố dự kiến xây dựng cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ trong năm 2027, cập nhật thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm, công nghệ, năng lực sản xuất và nhu cầu mua hàng của các doanh nghiệp lớn. Đây sẽ là cơ sở để xác định những doanh nghiệp có khả năng trở thành nhà cung ứng, lựa chọn nội dung hỗ trợ phù hợp và kết nối với doanh nghiệp đầu chuỗi. Chương trình cũng chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng, công cụ cải tiến năng suất, truy xuất nguồn gốc, tự động hóa và chuyển đổi số; gắn đào tạo nhân lực với nhu cầu cụ thể của từng ngành.
Công nghiệp đang mở thêm một trụ cột quan trọng cho tăng trưởng GRDP thành phố Quảng Ninh. Nhưng sức mạnh của trụ cột ấy không chỉ được đo bằng số dự án, tổng vốn đầu tư hay diện tích đất công nghiệp, mà bằng năng lực sản xuất thực tế, chất lượng sản phẩm, mức độ liên kết và giá trị gia tăng tạo ra. Khi những điểm nghẽn về mặt bằng, hạ tầng, lao động và công nghiệp hỗ trợ từng bước được khơi thông, dòng vốn đầu tư sẽ được chuyển hóa hiệu quả hơn thành sản lượng, việc làm, nguồn thu và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó cũng là nền tảng để công nghiệp tiếp tục đóng góp mạnh mẽ, bền vững hơn vào tăng trưởng GRDP trong giai đoạn phát triển mới.
Thực hiện: Ngọc Ánh
Trình bày: Hải Ninh