Quảng Ninh nâng giá trị nông nghiệp bằng công nghệ cao

Quảng Ninh nâng giá trị nông nghiệp bằng công nghệ cao

Quảng Ninh đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản trên diện tích canh tác. Cùng với phát huy hiệu quả các khu nông nghiệp công nghệ cao, địa phương hướng tới thu hút doanh nghiệp đầu tư, nhân rộng các mô hình sản xuất hiện đại, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

t1-1162.png

Những năm 90 của thế kỷ trước, sản xuất lúa ở Quảng Ninh vẫn phụ thuộc vào giống chiêm đá có thời gian sinh trưởng kéo dài tới 210 ngày, chịu phân kém, thân cao, dễ đổ ngã, năng suất chỉ đạt 12-15 tạ/ha. Giống lúa này trở thành một trong những bài toán đầu tiên đặt ra cho ngành nông nghiệp Quảng Ninh trong hành trình đưa khoa học công nghệ vào sản xuất: Muốn nâng cao năng suất, trước hết phải thay thế giống lúa cũ, nhưng thay bằng giống gì? Ông Trần Văn Thực, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Quảng Ninh (Sở NN&MT), cho biết, yêu cầu thay thế giống lúa chiêm đã được lãnh đạo địa phương và ngành nông nghiệp đặt ra từ sớm, song lời giải không dễ tìm, ngay cả ở cấp Trung ương. Phải khoảng một thập kỷ sau, cùng với thành công của các chương trình nghiên cứu, ứng dụng giống lúa trên cả nước và tại Quảng Ninh, sản xuất mới từng bước có những lựa chọn phù hợp hơn, như Trân Châu lùn, Nam Ninh, Bao thai lùn, NN8, NN5, IR17494/73-2, C70, C71…

bqn_tr_20230525-093333.jpg

Người dân xã Đầm Hà trồng giống lúa Japonica

Ông Vương Văn Toàn, Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ (Sở NN&MT), cho biết: Từ đó đến nay, đưa khoa học công nghệ vào nông nghiệp trở thành nhiệm vụ thường xuyên. Quảng Ninh ưu tiên, khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật mới vào sản xuất, bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Có thể kể đến việc chuẩn hóa một số giống vật nuôi đặc hữu của Quảng Ninh nhằm bảo đảm chất lượng thương phẩm đồng đều, như lợn Móng Cái thuần chủng và lợn lai, gà Tiên Yên, bò Sind; bảo tồn nguồn gen, phát triển giống lợn Móng Cái thuần chủng; nhân giống thủy sản nước ngọt…

Đặc biệt, việc xây dựng hồ Yên Lập đã tạo chuyển biến lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Sau khi đưa vào khai thác, công trình thủy nông có dung tích chứa 127,5 triệu m³ nước này góp phần giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn, tạo điều kiện để vùng Hà Nam cũ, nay thuộc hai xã Phong Cốc và Liên Hòa, trở thành vùng trọng điểm sản xuất lúa vào những năm 2000.

Cùng với đó, Quảng Ninh tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ để hiện đại hóa các công trình thủy nông; hình thành vùng sản xuất chuyên canh; chuyển từ khai thác thủy sản ven bờ sang khai thác xa bờ và nuôi trồng thủy sản (NTTS). Riêng trong NTTS, địa phương định hướng chuyển từ nuôi quảng canh sang nuôi thâm canh. Trong chăn nuôi, phương thức sản xuất cũng từng bước chuyển từ quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang mô hình trang trại, gia trại.

bqn_tl_1791639657493-7550867262137107589-7550867262137107589-h.jpg

Mô hình nuôi tôm thương phẩm thí điểm của Công ty TNHH Việt Úc - Quảng Ninh.

Từ những năm 2010, Quảng Ninh đã tính đến việc hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt, thủy sản, lâm nghiệp, chăn nuôi bò sữa… đồng thời từng bước triển khai để hiện thực hóa mục tiêu này. Địa phương dành quỹ đất sạch, mặt bằng rộng, vị trí thuận lợi cho các đơn vị đầu tư; đầu tư hạ tầng kỹ thuật cơ bản và áp dụng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút doanh nghiệp.

Kết quả của quá trình này là năm 2016, Quảng Ninh gần như cùng lúc thu hút được hai doanh nghiệp lớn đầu tư vào các khu nông nghiệp công nghệ cao: Tập đoàn Vingroup trong lĩnh vực trồng trọt tại Hồng Thái Tây, nay là phường Hoàng Quế; Tập đoàn Việt Úc trong lĩnh vực thủy sản tại xã Đầm Hà.

Chỉ hai năm sau, cả hai đơn vị đã có sản phẩm. Việt Úc sản xuất tại chỗ và cung ứng tôm giống ra thị trường, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn về nguồn giống thủy sản của Quảng Ninh. Vingroup đưa các giống mới nhập ngoại vào sản xuất, ứng dụng công nghệ nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tiêu tự động…, tạo ra các sản phẩm nông sản đủ điều kiện phân phối tại những hệ thống siêu thị uy tín trên cả nước.

bqn_tr_1791639170939-7550867262137107589-7550867262137107589-h.jpg

Khu vực nuôi tảo phục vụ thức ăn cho tôm giống tại Công ty TNHH Việt Úc - Quảng Ninh.

Đến năm 2020, sản lượng rau, củ, quả của Vingroup tại Hồng Thái Tây duy trì ổn định ở mức 100-120 tấn/tháng, thời điểm cao điểm đạt gần 200 tấn/tháng; 100% sản phẩm được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị VinMart. Trong giai đoạn đầu, Tập đoàn Vingroup đã mời chuyên gia nông nghiệp đến khảo nghiệm giống mới, đồng thời lắp đặt hệ thống tưới nước tự động tại Khu nông nghiệp công nghệ cao VinEco.

Năm 2022, việc Chính phủ chính thức phê duyệt quyết định thành lập Khu nông nghiệp công nghệ cao VinEco tại Hồng Thái Tây đánh dấu một bước tiến trong quá trình xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao của Quảng Ninh.

Tuy nhiên, trong giai đoạn tiếp theo, các quy định về khu nông nghiệp công nghệ cao có nhiều thay đổi, phát sinh những khó khăn trong thực tiễn triển khai, liên quan đến bộ máy quản lý, chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, trồng rừng thay thế, quy chế hoạt động…

Ông Nguyễn Văn Bông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, cho biết: Chỉ tính riêng chi phí trồng rừng thay thế, mức đầu tư đối với rừng ngập mặn đã dao động quanh mức 300 triệu đồng/ha, tùy điều kiện thực địa. Mức chi phí này cao hơn nhiều so với trước, làm tăng chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tiến độ hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao còn lại theo mục tiêu của Quảng Ninh bị chững lại.

bqn_tr_1791164202522-1584671167053188786-5939033793570217764-h.jpg

Nông dân Móng Cái 3 thành công nhân giống cá nước mặn.

Bản thân Khu nông nghiệp công nghệ cao VinEco cũng bắt đầu bộc lộ những hạn chế. Hoạt động tại đây mới tập trung vào khảo nghiệm, lựa chọn giống phục vụ sản xuất của doanh nghiệp, trong khi nhiều hạng mục theo chức năng, nhiệm vụ của một khu nông nghiệp công nghệ cao chưa được triển khai. Đó là trình diễn các mô hình sản xuất hiện đại; chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật canh tác tiên tiến; lựa chọn, giới thiệu giống cây trồng mới để người dân đưa vào sản xuất và nhân rộng; thu hút doanh nghiệp tham gia các hoạt động trồng trọt ứng dụng hàm lượng khoa học công nghệ cao; nâng cao giá trị sản xuất trực tiếp tại khu.

Theo ông Nguyễn Minh Sơn, trước những thay đổi trên, thành phố Quảng Ninh hiện có cách nhìn khác về việc hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao. Thành phố không đặt mục tiêu thành lập khu bằng mọi giá, mà hướng đến hình thành các khu, cụm công nghiệp chuyên biệt để thu hút doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.

bqn_tl_1791642957407-9143856875604557226-9143856875604557226-h.jpg

Nông dân phường Đông Triều thành công với mô hình trồng giống nho sữa hàn Quốc.

Đồng quan điểm, ông Trần Anh Cường, Bí thư xã Đầm Hà, chia sẻ: Quá trình thành lập khu nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực thủy sản trên địa bàn đã được triển khai gần 10 năm qua, với nỗ lực của cả chính quyền địa phương và doanh nghiệp là Tập đoàn Việt Úc. Hiện nay, định hướng hình thành các khu, cụm công nghiệp chuyên biệt để thu hút doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất là hướng đi mở hơn, có tính khả thi cao hơn.

Ông Lương Quốc Thịnh, Phó Chủ tịch UBND xã Đầm Hà, cho biết thêm: Với mô hình khu, cụm công nghiệp chuyên biệt dành cho doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ, trong phạm vi thẩm quyền, xã sẽ lập quy hoạch phân khu, đầu tư hạ tầng thiết yếu, kêu gọi nhà đầu tư xây dựng hạ tầng cơ bản và thu hút doanh nghiệp khoa học công nghệ vào sản xuất. Trong quá trình triển khai, doanh nghiệp chủ động lập hồ sơ, thực hiện các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và chứng minh tính đổi mới, sáng tạo để được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao. Cách làm này tạo điều kiện để cả địa phương và doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình triển khai.

Hiện nay, dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa công nghệ cao tại xã Quảng Tân và xã Đầm Hà cũng đang được thúc đẩy theo hướng thu hút doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ. Ông Vũ Quốc Hưng, Chủ tịch UBND xã Quảng Tân, cho biết: Địa phương kỳ vọng dự án với quy mô tổng đàn 10.000 con bò, trong đó có 5.000 con bò sữa, cùng nhà máy chế biến sữa công suất 200 tấn/ngày sẽ sớm đi vào hoạt động. Khi đó, chăn nuôi bò sữa gắn với chế biến sẽ hình thành chuỗi sản xuất khép kín, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giảm bớt các khâu trung gian trong chuỗi cung ứng.

t2-1553.png

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Quảng Ninh hiện nay đang đi vào từng mô hình sản xuất cụ thể. Bức tranh nông nghiệp công nghệ cao của địa phương ngày càng có thêm những điểm sáng, với chuyển biến đáng ghi nhận trong cả nuôi trồng thủy sản, trồng trọt và chăn nuôi.

Hiện nay, 100% diện tích canh tác lúa của Quảng Ninh sử dụng giống lúa mới, ngắn ngày, năng suất cao, đạt 50-60 tạ/ha. Địa phương tăng cường gieo trồng các bộ giống lúa thuần, lúa chất lượng cao, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ. Cùng với đó, các vùng chuyên canh đặc sản có giá trị cao từng bước được hình thành, với vải chín sớm Yên Tử, na dai Đông Triều, chè Đường Hoa… Hệ thống cấp mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc nông sản bằng công nghệ số cũng được thiết lập.

bqn_tl_nipolm.jpg

Giai đoạn đầu hình thành, Tập đoàn Vingroup mời chuyên gia nông nghiệp về khảo nghiệm giống mới và lắp đặt hệ thống tưới nước tự động tại Khu nông nghiệp công nghệ cao VinEco.

Trong chăn nuôi, ngày càng có nhiều trang trại, gia trại ứng dụng phương thức chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp theo quy trình khép kín. Nhiều mô hình áp dụng các tiêu chuẩn an toàn sinh học, VietGAP, hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động; mạng lưới cơ sở giết mổ tập trung từng bước được phát triển.

Riêng thủy sản, lĩnh vực sản xuất trọng yếu của nông nghiệp Quảng Ninh, đang có bước chuyển mạnh từ khai thác thủy sản sang phát triển kinh tế nuôi biển hiện đại, ứng dụng công nghệ cao. Tàu cá vươn khơi được trang bị đồng bộ máy định vị GPS, hải đồ điện tử, máy dò cá bằng sóng siêu âm và hầm bảo quản lạnh sử dụng vật liệu PU cách nhiệt. Các cơ sở NTTS trên biển ứng dụng vật liệu nổi đạt chuẩn, từng bước mở rộng ra vùng biển hở, biển xa và phát triển các đối tượng nuôi có giá trị cao, vốn trước đây chủ yếu được khai thác trong tự nhiên.

bqn_tl_20260923-061811.jpg

Ngư dân Cô Tô sử dụng thiết bị hiện đại để khai thác thuỷ sản giá trị cao.

Đối với nuôi thủy sản trên bờ, trọng tâm là nuôi tôm thẻ chân trắng, phương thức nuôi công nghiệp ứng dụng công nghệ Biofloc và hệ thống nuôi tuần hoàn đang ngày càng được quan tâm.

Báo cáo của Sở NN&MT cho thấy, toàn thành phố hiện có trên 7.500ha nuôi tôm công nghiệp, công nghệ cao, với 2.250 cơ sở nuôi. Việc ứng dụng công nghệ thể hiện ở sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý chất thải hữu cơ trong ao nuôi, tận dụng quá trình chuyển hóa để tạo nguồn thức ăn giàu protein cho tôm; ứng dụng công nghệ nano bạc xử lý chất lượng nước, hỗ trợ kiểm soát vi khuẩn, nấm và các tác nhân gây bệnh trong môi trường nuôi; thí điểm sử dụng thảo mộc nhằm bổ sung dưỡng chất, tăng sức đề kháng cho vật nuôi.

Nhiều cơ sở còn sử dụng hệ thống cho ăn tự động theo cảm biến, phần mềm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để cảnh báo môi trường; triển khai mô hình nuôi tuần hoàn khép kín (RAS), cho phép kiểm soát các thông số môi trường ao nuôi thông qua cảm biến kết nối Internet vạn vật (IoT).

Khu NTTS xã Hải Lạng hiện có 60 cơ sở nuôi công nghệ cao, với gần 300 ao nuôi, tổng diện tích hơn 20ha. Các ao nuôi có diện tích nhỏ, phía trên có mái che, xung quanh được bao bọc bằng hệ thống nhà màng. Bên trong ao, người nuôi sử dụng máy tạo oxy và các thiết bị quản lý môi trường; hệ thống cấp, thoát nước được thiết kế riêng biệt, kết hợp với ao lắng và hệ thống xử lý nước trước khi thải ra môi trường.

bqn_tr_20241114-105256.jpg

Người dân xã Hoành Mô thành công với mô hình nuôi nước lạnh.

Khu nuôi tôm của HTX Nuôi tôm công nghệ cao Cẩm Phả áp dụng công nghệ nuôi ba giai đoạn, với quy trình khép kín từ khâu ươm giống đến khi tôm đạt kích cỡ thương phẩm.

Anh Nguyễn Văn Thùy, khu 4 Hải Yên, phường Móng Cái 3, là một trong những hộ nuôi sử dụng giống tôm siêu tăng trưởng và đạt kết quả cao. Anh cho biết: Chỉ sau 87 ngày, năm ao nuôi ngoài trời của gia đình đã thu hoạch hơn 30 tấn tôm, với kích cỡ 26-28 con/kg, giá bán đạt 207.000 đồng/kg. Trước đây, với các giống tôm khác, anh phải nuôi 100-110 ngày mới đạt kích cỡ 30-32 con/kg, giá bán dưới 190.000 đồng/kg. Theo anh Thùy, sử dụng giống Siêu 60 giúp tăng khoảng 30% lợi nhuận so với trước.

Anh Nguyễn Văn Thuỳ, khu 4 Hải Yên, phường Móng Cái 3 được nhận thưởng do nuôi tôm giống Siêu 60 - siêu tăng trưởng đạt kết quả cao.

Anh Nguyễn Văn Thuỳ, khu 4 Hải Yên, phường Móng Cái 3 được nhận thưởng do nuôi tôm giống Siêu 60 - siêu tăng trưởng đạt kết quả cao.

Đưa khoa học công nghệ vào nông nghiệp là hướng đi đúng đắn, phù hợp với điều kiện sản xuất của Quảng Ninh. Với những chuyển động hiện nay, cùng quyết tâm và nỗ lực của địa phương, doanh nghiệp và các hộ sản xuất, nông nghiệp công nghệ cao của Quảng Ninh có cơ sở để tạo thêm những điểm nhấn mới. Trong đó, Khu nông nghiệp công nghệ cao VinEco cần tiếp tục phát huy hiệu quả, hướng tới thực hiện đầy đủ chức năng của một khu nông nghiệp công nghệ cao; việc hình thành các khu, cụm công nghiệp chuyên biệt để thu hút doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần được đẩy mạnh; số lượng mô hình sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng, góp phần nâng cao giá trị và vị thế của nông nghiệp Quảng Ninh.

Việt Hoa
Trình bày: Hùng Sơn

Có thể bạn quan tâm