Những cây bút "văn một tay, báo một tay"

Những cây bút "văn một tay, báo một tay"

Trong làng báo chí và văn nghệ tỉnh nhà, có nhiều cây bút "hai vai" song hành vừa làm báo, vừa viết văn. Hai lĩnh vực tuy có khác biệt, nhưng cùng hướng đến một mục tiêu chung là đóng góp cho đời sống báo chí và VHNT Quảng Ninh, góp phần xây dựng nền văn hóa Vùng mỏ giàu bản sắc.

noi-dung-doan-van-ban-cua-ban-2026-10-14t153201614.png

Lý Biên Cương không chỉ viết báo hay sáng tác văn chương, mà còn tham gia lãnh đạo Hội VHNT tỉnh, góp phần xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ Vùng mỏ. Tác phẩm của ông giúp bạn đọc cả nước hiểu hơn về Quảng Ninh, một vùng đất thơ mộng, giàu truyền thống lao động anh hùng và tình người sâu sắc.

2528999-2528975-nha-bao-nha-van-ly-bien-cuong-15542511.jpg

Di ảnh nhà báo, nhà văn Lý Biên Cương.

Nhà báo, nhà văn Lý Biên Cương tên thật là Nguyễn Sỹ Hộ, sinh năm 1941, tại Hải Dương (nay là TP Hải Phòng). Năm 1960, ông làm phóng viên Báo Thanh niên xung phong, rồi Báo Tiền Phong. Từ năm 1961, ông về Báo Vùng mỏ, sau là Báo Quảng Ninh. Ông chuyển sang Hội VHNT tỉnh từ năm 1988, giữ chức Phó Chủ tịch Hội kiêm Phó Tổng biên tập Báo Hạ Long. Ông không chỉ là một nhà báo tận tụy, mà còn là nhà văn tài hoa, để lại di sản văn học đồ sộ với hơn 40 đầu sách ở nhiều thể loại gồm: Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, tản văn. Tác phẩm của ông đã khắc họa sống động hình ảnh con người vùng than, góp phần quan trọng vào đời sống báo chí và VHNT Quảng Ninh.

Với vai trò nhà báo, Lý Biên Cương có những bài viết gần gũi, sâu sát với đời sống công nhân mỏ, phản ánh chân thực những biến chuyển của Quảng Ninh. Ông không chỉ là người đưa tin, mà còn ghi chép, chiêm nghiệm và lan tỏa những giá trị nhân văn từ vùng than ra cả nước. Nhiều thế hệ bạn đọc biết đến ông qua những bài báo xuân đặc trưng, mang đậm chất văn chương. Trong suốt 1/4 thế kỷ công tác ở Báo Quảng Ninh, Lý Biên Cương đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của tờ báo.

Sau khi chuyển sang Hội VHNT tỉnh, Lý Biên Cương dành nhiều thời gian và tâm sức cho văn chương hơn. Và đó cũng là những năm tháng ông viết sung mãn nhất với nhiều tác phẩm đặc sắc khẳng định vị thế của ông trên văn đàn cả nước.

Trong những năm tháng cuối đời, ông cộng tác nhiệt tình với Báo Quảng Ninh. Ông cũng chính là người “cầm” chuyên mục “Trước đèn” trên tờ Quảng Ninh cuối tuần. Đó là những tản văn mà sau này in thành cuốn sách “Con người kể cũng hay hay”.

Nhưng nói cho đến cùng, Lý Biên Cương được bạn đọc nhớ đến nhiều hơn với tư cách nhà văn. Ông dành trọn cuộc đời sáng tạo cho vùng đất và con người Quảng Ninh, đặc biệt là những người thợ mỏ. Các tác phẩm của ông như một bức tranh sống động về người lao động. Những cái tên truyện ngắn ám ảnh như: “Đêm ấy vùng than ai thức”, “Bây giờ ta lại nói về nhau”, “Người ơi, người ở”, “Than con gái”, “Ở nơi hòn than rửa sạch”… đã trở thành biểu tượng văn học Vùng mỏ. Từ năm 1974, ông đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, là hội viên thứ hai của Quảng Ninh chỉ sau Võ Huy Tâm.

Một trong những đóng góp nổi bật của Lý Biên Cương là việc đưa chất thơ vào truyện ngắn một cách tinh tế. Văn phong ông đôn hậu, hào hoa mà lãng mạn. Tên truyện của ông thường mang tính thơ như: “Sâm cầm ơi sâm cầm”, “Thu cảm”, “Mười hai cửa bể”, “Giai điệu thành thị”, “Hạt mưa bay ngang”… Và theo cách diễn đạt của Chế Lan Viên thì có thể coi truyện ngắn Lý Biên Cương là “văn xuôi về một vùng thơ”. Đọc văn chương Lý Biên Cương, người ta nhận ra một Quảng Ninh trữ tình và cuốn hút.

Những chất liệu cuộc sống mà ông gom góp được trong quá trình làm báo đã được đưa vào văn chương một cách khéo léo. Chính vì thế nhân vật của nhà văn Lý Biên Cương sống động như đời thực, như bước ra từ cuộc đời thực, khiến người đọc cảm nhận như đã từng gặp đâu đó ở Vùng mỏ này. Nhà văn Lý Biên Cương xuất bản nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng đã đoạt giải thưởng văn học về đề tài công nhân, giải Báo Văn nghệ, giải Văn nghệ Hạ Long nhiều kỳ, giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam...

Nhà văn Lý Biên Cương qua đời năm 2010, nhưng di sản của ông vẫn sống trong lòng bạn đọc. Nhà văn Nguyễn Trí Huân từng nhận xét trong lời điếu: “Mặc dù cả đời ông chỉ gắn bó với vùng than, chỉ viết về than, về đất và người Vùng mỏ nhưng do mỗi tác phẩm của ông đều tích tụ nhiều sự chiêm nghiệm sâu xa về cuộc đời nên có sức tỏa sáng đến mọi miền đất nước”.

Ông là tấm gương nhà văn dùng ngòi bút để tôn vinh con người lao động và góp phần làm phong phú kho tàng VHNT. Những đóng góp của ông cho báo chí và VHNT Quảng Ninh là nguồn tự hào của tỉnh nhà. Năm 2012, nhà văn Lý Biên Cương được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT với cụm 3 tác phẩm: “Những kiếp phù du” (tiểu thuyết), “Những khoảnh khắc rủi may” (tập truyện) và “Nẻo trời Vô Tích tôi qua” (tập truyện).

noi-dung-doan-van-ban-cua-ban-2026-10-14t153226460.png

Võ Khắc Nghiêm tự cho mình là người may mắn sớm được tiếp cận với những người thợ sáng tạo, nhân ái và bất khuất kiên cường để có được những trang văn về Vùng mỏ. Hầu hết các sáng tác của ông trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ báo chí, đến văn chương, điện ảnh đều viết về Vùng mỏ.

2528998-di-sanh-nha-bao-nha-van-vo-khac-nghiem.jpg

Di ảnh nhà báo, nhà văn Võ Khắc Nghiêm.

Nhà văn Võ Khắc Nghiêm sinh năm 1942 tại Nha Trang (Khánh Hòa), học Trường Trung cấp Cơ điện mỏ, nhưng lại hoạt động trong lĩnh vực báo chí, VHNT. Ông từng là ủy viên BCH Hội VHNT Quảng Ninh, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam.

Với công việc làm báo, ông đã kinh qua nhiều vị trí khác nhau như: Trưởng Đài phát thanh mỏ, Phó Giám đốc Trung tâm truyền hình Công nghiệp mỏ, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Than Việt Nam.

Là thợ mỏ chuyển sang cầm bút viết văn, Võ Khắc Nghiêm viết rất sung sức. Ông luôn tự hào vì là người cầm bút trưởng thành từ một vùng đất giàu đẹp, anh hùng. Lấy vốn sống từ những năm tháng đầy gian lao vất vả, nhưng vinh quang của cuộc đời người thợ mỏ, thấu hiểu tâm tư, nỗi niềm của họ, tác phẩm của Võ Khắc Nghiêm luôn lấp lánh hình ảnh người thợ. Trong một lần trò chuyện với tôi, ông chia sẻ: “Tôi học được từ người thợ lò cách thể hiện “đi thẳng” vào truyện chân thực, không sa đà vào mây gió trăng sao, không miên man, rối rắm, mà tập trung chi tiết xây dựng nổi bật tính cách nhân vật đa chiều qua những sự kiện”.

Viết về thợ mỏ, Võ Khắc Nghiêm dựng một đường viền để soi sáng nhân vật. Từ đó, ông mở rộng biên độ, giới hạn của đề tài từ chuyện sản xuất và chiến đấu sang các lĩnh vực đời sống gia đình, mối quan hệ riêng tư để tạo không gian nghệ thuật rộng cho nhân vật hoạt động. Nhà văn thể hiện quan điểm sáng tác: "Tôi đã chọn cho mình cách viết “tốc độ”, dồn nén, áp dụng phương pháp cắt lớp của điện ảnh, tạo ra những xung đột tính cách của sân khấu và cả cách lướt qua sự kiện kiểu của báo chí để cho người đọc tiếp nhận nhanh thông tin và gợi mở cho họ sức tưởng tượng sống cùng nhân vật, giống như trong khai thác than người ta phải chọn phương hướng mở lò, cắt tầng đi thẳng vào vỉa than sao cho ngắn nhất".

Nhà văn Võ Khắc Nghiêm đã xuất bản 20 tập tiểu thuyết, đa phần viết về Vùng mỏ. Ông cũng đã cho ra đời hàng trăm truyện ngắn, bút ký, phóng sự, hàng chục kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh. Những câu chuyện, những nhân vật mà nhà văn Võ Khắc Nghiêm đã khắc hoạ không chỉ có thợ mỏ, mà còn gặp đâu đó ở Uông Bí, Vân Đồn, Hạ Long, Bái Tử Long.

2529009-2529008-nha-van-vo-khac-nghiem-va-nha-van-vu-thao-ngoc-17351711.jpg

Nhà văn Võ Khắc Nghiêm và nhà văn Vũ Thảo Ngọc năm 2017.

Cả cuộc đời, nhà văn Võ Khắc Nghiêm sống chung thủy với thợ mỏ. Khi làm báo, viết văn, ông luôn bênh vực những người yếu thế và đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác. Điều đó làm cho ông được kính trọng, yêu mến. Năm 2022, nhà văn Võ Khắc Nghiêm qua đời để lại niềm tiếc thương cho bạn đọc Vùng mỏ.

Ông được trao giải A Giải Văn học công nhân (giai đoạn 1990-1995), giải nhất Giải Văn học công nhân (giai đoạn 1995-2005), Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2017, Giải thưởng Văn học ASEAN (giai đoạn 2019-2020). Nhận xét về Võ Khắc Nghiêm, nhà văn Ma Văn Kháng cho rằng: “Những nỗ lực sáng tạo không ngừng nghỉ của Võ Khắc Nghiêm đã góp phần mang lại sự giàu có và vẻ đẹp cho văn học Quảng Ninh hiện đại”. Còn ông Đoàn Văn Kiển, nguyên Tổng Giám đốc TKV, nhận định: “Nhà văn Võ Khắc Nghiêm nổi tiếng vì những tác phẩm báo chí thời sự, vì những tác phẩm văn học để đời”.

noi-dung-doan-van-ban-cua-ban-2026-10-14t153242145.png

Trong dòng chảy của văn học Quảng Ninh, bên cạnh những Lý Biên Cương, Võ Khắc Nghiêm… Vũ Thảo Ngọc nổi lên như một nữ nhà văn hiếm hoi. Đi qua những năm tháng trực tiếp làm thợ điện dưới moong, chị xông pha với tư cách một nhà báo và lắng đọng như gom nhặt từng vỉa than trong vai trò nhà văn, nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian.

2529005-2529004-nha-van-vu-thao-ngoc-17305711.jpg

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc.

Sinh năm 1965 tại đất học Mộ Trạch (Hải Dương nay là TP Hải Phòng), ước mơ của Vũ Thảo Ngọc là trở thành nhà báo. Thế nhưng, ngã rẽ cuộc đời đã đưa chị tốt nghiệp trung cấp cơ điện, trở thành công nhân vận hành bơm moong tại Mỏ Cọc Sáu từ năm 1987. Chính không gian bụi bặm và sự hy sinh thầm lặng của người thợ dưới moong sâu đã đánh thức bản năng văn chương trong chị. Vừa làm thợ, chị vừa cặm cụi viết tin bài cho Đài truyền thanh mỏ, làm cộng tác viên cho các báo. Truyện ngắn đầu tay “Chị tôi” in trên Báo Hạ Long năm 1991 cổ vũ chị bước vào con đường sáng tác chuyên nghiệp. Đến năm 1997, tập truyện ngắn đầu tay “Đêm chuyển mùa” ra đời, trở thành hành trang giúp chị thi đỗ vào Trường Viết văn Nguyễn Du (nay là Đại học Văn hóa Hà Nội).

Sau khi tốt nghiệp, chị về Hội VHNT Quảng Ninh, trải qua nhiều vị trí công tác như: Biên tập viên, Thư ký tòa soạn Báo Hạ Long, Phó Chủ tịch Hội kiêm Phó Tổng Biên tập Báo Hạ Long. Cũng từ đây, chị có nhiều thời gian hơn để chuyên tâm cho sáng tác. Văn chương của Vũ Thảo Ngọc bám sâu vào đời sống, sự hy sinh, khát vọng và tình yêu của người thợ. Dù có những lúc chị lấn sân sang đề tài khác, nhưng gương mặt người công nhân vẫn là chủ đạo.

31 cuốn sách là minh chứng cho một năng lượng viết đáng nể, như một người thợ hì hục đào sâu vào vỉa than để trả ơn đất mỏ. Tiêu biểu là các tiểu thuyết: “Ánh đèn lò”, “Ba người đàn ông”, “Được là đàn bà”, “Thị trấn Mỏ Giếng”, tập truyện ngắn “Đợi ở Cửa Lục”, tập bút ký “Từ lòng mỏ đến những chân trời khác”. Tập bút ký “Mênh mang biển trời Đông Bắc” của chị đã được trao giải Nhất cuộc thi sáng tác chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập tỉnh vào năm 2023.

Bên cạnh văn xuôi, thơ của Vũ Thảo Ngọc lại là khoảng không gian sâu lắng, nhưng không tách rời chất liệu Vùng mỏ. Tập thơ “Rêu và đá” là tiếng lòng đằm thắm của chị dành cho đất mỏ. Từ đề tài chủ đề đến nhân vật, từ thơ đến văn xuôi của chị đều để trả ơn vùng than, trả ơn những người thợ mỏ.

Các tác phẩm bút ký của chị đều lần lượt được đăng báo, sau tuyển chọn để in thành sách. Bản lĩnh của một người từng đón gió moong sâu giúp Vũ Thảo Ngọc có lối viết báo dấn thân. Các bài ký báo chí, phóng sự của chị luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy nhạy bén của người làm báo và sự thấu cảm sâu sắc của người viết văn. Chị phản ánh sinh động công việc trên khai trường lộ thiên đến những hầm lò sâu để mang lại góc nhìn chân thực nhất cho bạn đọc.

Ở chị, bên cạnh sự chân thành, nhân hậu của một phụ nữ là một nhà văn giàu năng lượng, đam mê văn chương và cống hiến với phẩm chất người thợ. Tôi biết Vũ Thảo Ngọc sắp in thêm một trường ca về những chiến sĩ Binh đoàn Than.

2529010-nha-van-vu-thao-ngoc-trong-mot-chuyen-di-thuc-te-khai-thac-tu-lieu-tu-cong-viec-va-doi-song-tho-lo.jpg

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc trong một chuyến đi thực tế khai thác tư liệu từ công việc và đời sống thợ lò.

Quảng Ninh không chỉ có than, mà còn là vùng đất giao thoa văn hóa đặc sắc. Là một người cầm bút tâm huyết, Vũ Thảo Ngọc dành nhiều thời gian để khảo cứu, sưu tầm văn hóa dân gian về phong tục tập quán, lối sống của các dân tộc vùng Đông Bắc... Chị tập hợp những bài báo đó lại để in thành các cuốn sách khảo cứu về ca dao Vùng mỏ, hát đúm, văn hóa dân gian công nhân mỏ.

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc hiện đã nghỉ hưu, nhưng vẫn miệt mài sáng tác văn chương. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, sinh hoạt tại Chi hội Văn phòng của Hội Nhà báo Quảng Ninh. Nói về Vũ Thảo Ngọc, người ta thấy hình ảnh của một “thợ lò” cần mẫn đào từng “vỉa than” chữ nghĩa. Theo cách nói của nhà văn Phan Đình Minh “Nhà văn giống như kẻ đào giếng, hì hục, nặng nhọc...”, Vũ Thảo Ngọc không chỉ chạm được mạch ngầm của tình yêu thương, mà còn góp phần làm dày thêm bức tranh VHNT mang bản sắc Vùng mỏ anh hùng.

Thực hiện: PHẠM HỌC
Trình bày: VŨ LAN HƯƠNG

Có thể bạn quan tâm