Xác định cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, Quảng Ninh chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành, đẩy mạnh cải cách hành chính, đầu tư hạ tầng và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Thành phố tập trung xây dựng chính quyền phục vụ, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thuận lợi; đồng thời chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn những dự án có chất lượng, công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, tạo sức lan tỏa đối với nền kinh tế.
Quảng Ninh xác định cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh trước hết phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hành động của chính quyền. Thành phố chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang chủ động phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả giải quyết công việc làm thước đo chất lượng hoạt động của bộ máy. Mục tiêu giữ vững vị trí nhóm đầu cả nước về các chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS, PAPI được cụ thể hóa trong nghị quyết, chương trình công tác, gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu.
Kết quả năm 2025 cho thấy, Quảng Ninh tiếp tục duy trì vị trí thứ 2/34 địa phương về PAR Index và SIPAS, PCI nằm trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước. Đây là nền tảng để thành phố tiếp tục nâng cao chất lượng điều hành, giữ vững niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư. Cùng với đó, thành phố quán triệt phương châm “rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ kết quả”, tinh thần “5 thật” và “6 dám” trong thực thi công vụ, yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức chủ động giải quyết công việc, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không để những vướng mắc thuộc thẩm quyền kéo dài.
Trên cơ sở đó, Quảng Ninh tập trung rà soát, cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Trong 9 tháng năm 2026, thành phố đã cắt giảm 40% thời gian giải quyết đối với 1.249/2.069 thủ tục do Trung ương quy định; giảm 39% thời gian đối với 703/1.031 thủ tục liên quan trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh. Thành phố cũng hoàn thành đơn giản hóa thủ tục hành chính đặc thù theo Nghị quyết số 66/NQ-CP, bãi bỏ 21/21 thủ tục, điều kiện, quy định không còn phù hợp; bãi bỏ 50% thủ tục đặc thù và cắt giảm 50% thời gian giải quyết đối với 4 thủ tục.
Cùng với cắt giảm thủ tục, thành phố đẩy mạnh số hóa hồ sơ, khai thác cơ sở dữ liệu, giảm yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải cung cấp lại thông tin đã có. Hiện 2.128 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền địa phương đều được cung cấp trực tuyến; 100% hồ sơ được cấu hình quy trình điện tử và toàn bộ phí, lệ phí giải quyết thủ tục hành chính được thu qua thanh toán điện tử, không dùng tiền mặt.
Hiệu quả cải cách được thể hiện rõ qua kết quả giải quyết hồ sơ. Trong 9 tháng, các Trung tâm Phục vụ hành chính công tiếp nhận 652.503 hồ sơ, đã giải quyết 635.870 hồ sơ; trong đó 627.507 hồ sơ được giải quyết trước và đúng hạn, đạt 99,7%. Thành phố tiếp tục chuẩn hóa quy trình, công khai tiến độ xử lý, xác định trách nhiệm từng khâu, từng cơ quan, qua đó giảm thời gian chờ đợi, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong thực hiện các giao dịch hành chính.
Quảng Ninh cũng chủ động mở rộng hạ tầng số, tạo điều kiện để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ trong quản trị, sản xuất, kinh doanh. Đến hết tháng 9/2026, tỷ lệ phủ sóng 5G đạt khoảng 94%; 100% trường học thực hiện hồ sơ số; trên 1 triệu hồ sơ hộ tịch và trên 1,2 triệu hồ sơ đất đai được số hóa, liên kết dữ liệu. Thành phố đồng thời củng cố hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với 36 tổ chức, 35 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 38 phòng thử nghiệm VILAS, 50 phòng LAS-XD và 3 trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.
Cải thiện môi trường đầu tư không dừng ở rút ngắn thủ tục hành chính mà còn đòi hỏi thành phố chủ động chuẩn bị quy hoạch, mặt bằng, giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng xã hội. Quảng Ninh đã hoàn thành Quy hoạch chung đô thị đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075; điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung Khu kinh tế ven biển Quảng Yên. Thành phố đồng thời ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch, xác định các nhiệm vụ ưu tiên, tái cấu trúc không gian phát triển, mở rộng dư địa thu hút đầu tư và tạo cơ sở triển khai các dự án hạ tầng đồng bộ, hiện đại.
Trên cơ sở quy hoạch, thành phố tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông có tính kết nối vùng và tạo động lực phát triển dài hạn như tuyến đường ven sông kết nối cao tốc Hạ Long - Hải Phòng đến Đông Triều, nâng cấp Quốc lộ 4B đoạn qua Quảng Ninh, đường ven biển Tây Bắc vịnh Cửa Lục, đường bao biển kéo dài qua cầu Bình Minh đến Cầu Bang. Thành phố cũng tổ chức khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh, đồng thời nghiên cứu, thúc đẩy tuyến đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái và các dự án cảng biển, logistics chiến lược.
Đối với hạ tầng công nghiệp, Quảng Ninh tập trung hoàn thiện các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm, chủ động chuẩn bị mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật và điều kiện tiếp nhận các dự án sản xuất, chế biến, chế tạo. Trong 9 tháng, thành phố đã thu hút 23 dự án mới vào các khu công nghiệp, khu kinh tế với tổng vốn đầu tư trên 43.765 tỷ đồng. Thành phố cũng thành lập 6 cụm công nghiệp với diện tích 363,27ha, khởi công 9 cụm công nghiệp với diện tích 516,84ha. Tại 7 cụm công nghiệp đang hoạt động, có thêm 38 doanh nghiệp đầu tư với tổng vốn 1.027 tỷ đồng. Những kết quả này góp phần mở rộng quỹ đất sản xuất, tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong lĩnh vực năng lượng, Quảng Ninh chủ động triển khai các dự án theo quy hoạch, bảo đảm nguồn cung điện cho sản xuất và phát triển kinh tế. Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1 công suất 200MW đã khởi công ngày 23/4/2026. Đối với Dự án Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh, thành phố đã hoàn thành giải phóng mặt bằng, giao đất và giao khu vực biển cho nhà đầu tư. Thành phố tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan và nhà đầu tư hoàn thiện các điều kiện triển khai dự án. Bên cạnh đó, thành phố đã lựa chọn nhà đầu tư cho Dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 4 và đang thẩm định chủ trương đầu tư 5 dự án điện gió trên bờ, gần bờ.
Một nhiệm vụ trọng tâm khác là giải phóng mặt bằng, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài nhằm đưa nguồn lực đất đai, vốn đầu tư vào khai thác hiệu quả. Quảng Ninh tổ chức rà soát từng dự án, phân loại nguyên nhân vướng mắc, xác định rõ trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết. Đối với 198 dự án chậm tiến độ được rà soát, đến thời điểm báo cáo 9 tháng, thành phố đã xử lý, đưa 151 dự án ra khỏi tình trạng vướng mắc; 47 dự án còn lại đã hoàn thành rà soát pháp lý, trình và đề xuất hướng giải quyết cụ thể. Riêng 69/69 dự án thuộc Hệ thống 751 đã được xử lý, tháo gỡ, hoàn thành rà soát pháp lý và chỉ đạo hướng giải quyết; trong đó 48 dự án không còn khó khăn, vướng mắc.
Công tác giải phóng mặt bằng cũng đạt kết quả tích cực. Trong tổng diện tích 9.441,64ha phải giải phóng mặt bằng, thành phố đã hoàn thành 6.084,97ha, đạt 64,44%, liên quan đến 12.361 trường hợp đã thu hồi đất. Thành phố tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị tập trung xử lý những trường hợp còn vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng, bảo đảm tiến độ triển khai các công trình, dự án trọng điểm.
Quảng Ninh đồng thời chủ động phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và nhà ở cho chuyên gia, gắn với nhu cầu nhân lực tại các khu công nghiệp, khu kinh tế. Đến hết tháng 9/2026, thành phố có 21 dự án nhà ở xã hội với quy mô khoảng 24.913 căn; 1 dự án nhà ở lực lượng vũ trang khoảng 620 căn và 1 dự án nhà ở lưu trú công nhân khoảng 384 căn. Quy mô này vượt chỉ tiêu Chính phủ giao đến năm 2030 là 17.588 căn. Thành phố đã hướng dẫn 13 chủ đầu tư hoàn thiện thủ tục pháp lý để tiếp cận gói tín dụng ưu đãi 120.000 tỷ đồng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, đồng thời chủ động xây dựng kế hoạch phát triển nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030.
Quảng Ninh xác định doanh nghiệp là chủ thể của hoạt động sản xuất, kinh doanh, còn chính quyền có trách nhiệm tạo lập môi trường thuận lợi và đồng hành giải quyết khó khăn. Thành phố tổ chức các cuộc làm việc chuyên đề với từng nhóm doanh nghiệp, trực tiếp nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh, tiếp nhận kiến nghị về thủ tục, đất đai, hạ tầng, lao động và chính sách. Mô hình “cà phê doanh nhân” và hoạt động của Tổ công tác hỗ trợ đầu tư tiếp tục phát huy vai trò kết nối, giúp thành phố kịp thời phân công cơ quan xử lý, theo dõi tiến độ và kết quả giải quyết từng kiến nghị.
Sự đồng hành của chính quyền còn thể hiện ở việc tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, lao động và thị trường. Trong 9 tháng năm 2026, toàn thành phố có 2.715 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 33.186 tỷ đồng, đạt 108,6% kế hoạch theo Nghị quyết số 05-NQ/TU; có thêm 925 đơn vị hoạt động trở lại, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên 13.778. Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 44.431 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, sử dụng khoảng 70,65% lực lượng lao động xã hội. Những con số này cho thấy vai trò ngày càng lớn của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển kinh tế thành phố.
Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Quảng Ninh tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường. Thành phố đã tổ chức 19 lớp đào tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với 760 học viên; hỗ trợ thẩm định công nghệ 531 lượt hồ sơ, hỗ trợ 83 đơn vị về xác lập, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; hướng dẫn 56 doanh nghiệp xuất khẩu khai thác sản phẩm mới, tiếp cận thị trường mới. Trong 9 tháng, thành phố tổ chức 64 phiên giao dịch việc làm, góp phần tạo thêm 23.650 việc làm.
Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp cũng tiếp tục được cải thiện. Đến ngày 30/9/2026, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn ước đạt 247.000 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2025; trong đó dư nợ khu vực kinh tế tư nhân đạt khoảng 220.500 tỷ đồng, chiếm 89,3% tổng dư nợ, tăng 10,9% so với cuối năm trước. Thành phố đồng thời hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển từ phương pháp thuế khoán sang kê khai, phổ cập ứng dụng eTax Mobile, tạo điều kiện để các hộ kinh doanh nâng cao tính minh bạch, từng bước mở rộng quy mô hoạt động.
Đối với khu vực FDI, Quảng Ninh chủ động đổi mới chiến lược xúc tiến đầu tư theo hướng có chọn lọc, cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thành phố triển khai các kế hoạch thực hiện, xây dựng danh mục dự án thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030, tham gia góp ý hồ sơ sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, hướng tới tháo gỡ những quy định chồng chéo, nâng cao hiệu quả phân cấp, phân quyền và quản lý dự án.
Trong 9 tháng, tổng vốn thu hút đầu tư nước ngoài đạt trên 1.314,53 triệu USD. Thành phố cấp mới 26 dự án với tổng vốn đăng ký 659,68 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn 21 lượt dự án với tổng vốn tăng thêm 654,66 triệu USD. Vốn đăng ký tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 58,1%; bất động sản chiếm 40,9%. Đặc biệt, các khu công nghiệp, khu kinh tế thu hút 96,3% tổng vốn đầu tư nước ngoài, cho thấy hiệu quả của việc tập trung phát triển hạ tầng và tổ chức không gian sản xuất.
Quảng Ninh hướng hoạt động xúc tiến đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và có khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước. Các chuỗi ngành được ưu tiên gồm điện tử - tự động hóa; logistics - cảng biển; kinh tế xanh; hạ tầng số; du lịch cao cấp. Thành phố đồng thời thúc đẩy liên kết cung - cầu giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp tư nhân trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn quản trị để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Cùng với đó, thành phố chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực, phát triển nhà ở công nhân, nhà ở chuyên gia và các dịch vụ thiết yếu tại khu công nghiệp, khu kinh tế; định hướng phát triển khu công nghiệp sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Những điều kiện này góp phần nâng cao sức hấp dẫn của Quảng Ninh đối với các nhà đầu tư dài hạn, có năng lực công nghệ và quản trị hiện đại.
Với cách tiếp cận chủ động, đồng bộ và thực chất, Quảng Ninh đang từng bước tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi trên nền tảng cải cách thể chế, nâng cao chất lượng điều hành, phát triển hạ tầng và đồng hành cùng doanh nghiệp. Thành phố hướng tới không chỉ thu hút thêm nguồn lực đầu tư mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường liên kết giữa các khu vực kinh tế, phát triển doanh nghiệp nội địa và hình thành những động lực tăng trưởng mới. Đây là cơ sở quan trọng để Quảng Ninh thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn 2026-2030.
Thu Hương
Trình bày: Tất Đạt