Trải qua chặng đường hơn 40 năm đổi mới, Quảng Ninh đã khẳng định vị thế một “đầu tàu” phát triển năng động của vùng Đông Bắc, từng bước trở thành hạt nhân kiến tạo, định hình chiến lược liên kết vùng. Đột phá trong tư duy quản trị, đi đầu trong cải cách thể chế, chủ động huy động nguồn lực và sở hữu hệ thống hạ tầng kết nối đồng bộ… đang giúp Quảng Ninh mở rộng không gian và tạo những động lực phát triển mới.
Tối ưu hóa lợi thế địa phương
Quảng Ninh sở hữu vị trí địa kinh tế đặc biệt, có biên giới đất liền, biên giới biển với Trung Quốc, là cửa ngõ hướng ra biển của vùng Đông Bắc, kết nối trực tiếp với không gian kinh tế phía Bắc và có hơn 250km đường bờ biển. Những lợi thế ấy tạo nên một không gian phát triển hiếm có, nhưng nếu chỉ dừng ở khai thác tài nguyên và vị trí địa lý thì vẫn chỉ là những “tiềm năng thô”. Điều tạo nên khác biệt trong hành trình phát triển của Quảng Ninh những năm qua chính là cách biến lợi thế thành nguồn lực, biến nguồn lực thành động lực và từng bước mở ra những không gian phát triển mới.
Một trong những dấu ấn nổi bật là tư duy “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, mạnh dạn dành nguồn lực cho những công trình hạ tầng chiến lược, qua đó tạo nền tảng thu hút các nguồn lực xã hội. Cùng với đó là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, gắn với 3 đột phá chiến lược về hạ tầng, cải cách hành chính và nguồn nhân lực.
Trong đó, hạ tầng giao thông đồng bộ chính là nền tảng quan trọng để mở rộng không gian phát triển. Với tinh thần tự lực, tự cường, chủ động đề xuất Trung ương cho phép triển khai những cơ chế, chính sách phù hợp, Quảng Ninh đã huy động đa dạng nguồn lực để hình thành mạng lưới giao thông chiến lược, kết nối đường bộ, đường biển, hàng không và đang hướng tới đường sắt.
Từ tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, hệ thống cảng biển, đến Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, một mạng lưới kết nối có tính chiến lược đã hình thành, rút ngắn khoảng cách không gian, thời gian giữa Quảng Ninh với Hà Nội, Hải Phòng, các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng, đồng thời mở rộng cánh cửa giao thương với Trung Quốc và quốc tế.
Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn được định hướng trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống logistics và du lịch quốc tế. Theo quy hoạch, giai đoạn 2021-2030, sân bay Vân Đồn được định hướng đạt công suất khoảng 2,5 triệu hành khách và 5.000 tấn hàng hóa/năm; đến năm 2050, công suất nâng lên khoảng 20 triệu hành khách và 200.000 tấn hàng hóa, hướng tới vai trò trung tâm trung chuyển du lịch quốc tế, logistics hàng không và vận chuyển hàng hóa. Đây là nền tảng để Vân Đồn phát triển thành một trung tâm kinh tế biển, dịch vụ và logistics hiện đại.
Cùng với đó, hệ thống cảng biển được quy hoạch theo hướng hiện đại, đồng bộ, gắn với phát triển kinh tế biển, logistics, công nghiệp, dịch vụ và du lịch. Đến năm 2030, hệ thống cảng biển Quảng Ninh được định hướng đáp ứng nhu cầu thông qua 118-153 triệu tấn hàng hóa, trong đó container khoảng 0,65-0,93 triệu TEU. Các khu bến được tổ chức gắn với các trung tâm công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghiệp và hành lang vận tải liên vùng, tạo thành mạng lưới hậu cần phục vụ trực tiếp sản xuất và thương mại.
Từ lợi thế cửa khẩu, Quảng Ninh đang chuyển từ tư duy điểm thông quan sang hệ sinh thái thương mại - logistics xuyên biên giới. Cửa khẩu thông minh, ứng dụng công nghệ số, kết nối dữ liệu, thương mại điện tử xuyên biên giới và logistics thông minh mở ra khả năng giảm thời gian, chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất, nhập khẩu. Trong định hướng phát triển mới, logistics đa phương thức, logistics thông minh và logistics xanh được xác định là một trong những ngành dịch vụ mũi nhọn, liên thông với cảng biển, sân bay, cửa khẩu, khu kinh tế, khu công nghiệp và các đô thị.
Điểm cốt lõi tạo nên sức bật của Quảng Ninh không chỉ nằm ở những công trình đã xây dựng, mà ở tư duy kiến tạo chính sách đứng phía sau. Thay vì thụ động chờ nguồn lực phân bổ, Quảng Ninh chủ động tìm kiếm cơ chế, mở rộng không gian phát triển, tạo môi trường đầu tư và tổ chức lại các nguồn lực theo hướng hiệu quả hơn.
Tư duy ấy đang tiếp tục được cụ thể hóa bằng cách tổ chức lại không gian phát triển, chuyển từ tiếp cận theo địa giới hành chính sang không gian chức năng; hình thành các cực tăng trưởng, hành lang động lực và những hệ sinh thái đô thị - công nghiệp - dịch vụ, đô thị - di sản - du lịch, đô thị - kinh tế biển có sức lan tỏa cao. Cấu trúc 3 hành lang phát triển - 4 vùng kinh tế, xã hội - 5 trung tâm động lực phát triển chính là sự cụ thể hóa cho tư duy đó.
Sứ mệnh liên kết vùng và cơ hội vàng từ vành đai 5 vùng Thủ đô
Trong không gian phát triển mới của phía Bắc, thành phố Quảng Ninh đang đứng trước một bước chuyển quan trọng: Từ một cực tăng trưởng năng động của vùng Đông Bắc trở thành một trung tâm liên kết vùng, nơi các dòng hàng hóa, vốn, công nghệ, dịch vụ và du lịch có thể kết nối, lưu chuyển giữa những không gian kinh tế lớn.
Vị thế này trước hết được tạo nên bởi một lợi thế đặc biệt: Quảng Ninh vừa nằm trong vùng kinh tế năng động nhất phía Bắc, vừa có cửa ngõ quốc tế trên bộ, trên biển và kết nối trực tiếp với Trung Quốc. Phía Tây, Quảng Ninh gắn với Hà Nội và các trung tâm công nghiệp của vùng; phía Nam kết nối Hải Phòng và không gian kinh tế biển; phía Bắc mở ra thị trường Trung Quốc; phía Đông và phía Nam là không gian biển rộng lớn. Quảng Ninh vì thế có khả năng trở thành điểm giao của nhiều hành lang kinh tế, kết nối nội địa với quốc tế, sản xuất với logistics, du lịch với dịch vụ và kinh tế biển với kinh tế cửa khẩu.
Trong cấu trúc đó, Quảng Ninh không phát triển tách rời Hà Nội, Hải Phòng hay các địa phương trong vùng, mà có thể bổ sung những giá trị mà toàn vùng cần. Nếu Hà Nội là trung tâm chính trị, khoa học công nghệ và dịch vụ chất lượng cao; Hải Phòng là cực công nghiệp, cảng biển và logistics, thì Quảng Ninh có thế mạnh nổi trội về kinh tế biển, du lịch quốc tế, cửa khẩu, thương mại xuyên biên giới và các dịch vụ gắn với biển. Sự khác biệt về lợi thế này được kết nối hiệu quả, tạo thành sức mạnh bổ trợ thay vì cạnh tranh phân tán.
Đây cũng chính là ý nghĩa sâu xa của liên kết vùng: Không phải địa phương nào cũng phát triển tất cả, mà mỗi nơi phát huy tốt nhất lợi thế của mình để cùng tạo nên một không gian kinh tế lớn hơn. Khi đó, cảng biển Quảng Ninh không chỉ phục vụ hàng hóa của Quảng Ninh; sân bay Vân Đồn không chỉ phục vụ du lịch địa phương; cửa khẩu Móng Cái không chỉ là điểm giao thương của một thành phố biên giới.
Những hạ tầng ấy có thể trở thành các đầu mối phục vụ cho cả vùng, đưa hàng hóa, du khách và các dòng giao thương từ bên ngoài vào sâu hơn trong nội địa, đồng thời đưa sản phẩm của vùng ra thị trường quốc tế. Có thể hình dung sứ mệnh của Quảng Ninh trong cấu trúc đó là đưa vùng Đồng bằng sông Hồng vươn ra biển và đưa thị trường quốc tế đi sâu hơn vào nội địa. Đây là lợi thế mà ít địa phương có thể đảm nhận đồng thời.
Cơ hội để hiện thực hóa vai trò ấy càng rõ nét khi thành phố đang đề nghị Chính phủ đồng ý đầu tư tuyến cao tốc kết nối với vành đai 5 - Vùng Thủ đô và tuyến hướng tới sân bay Gia Bình. Đây không đơn thuần là một tuyến giao thông mới, mà là một hành lang phát triển mới, mở thêm hướng kết nối trực tiếp giữa Quảng Ninh với các trung tâm sản xuất, đô thị và dịch vụ ở phía Tây.
Được kết nối, hàng hóa từ các khu công nghiệp, trung tâm sản xuất trong vùng có thêm một hướng tiếp cận nhanh tới hệ thống cảng biển, cửa khẩu và thị trường quốc tế của Quảng Ninh. Ở chiều ngược lại, nguồn vốn, công nghệ, nguyên liệu, dịch vụ và du khách từ các thị trường bên ngoài cũng có điều kiện lưu chuyển thuận lợi hơn tới Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh và các trung tâm kinh tế phía trong.
Để đảm nhận vai trò ấy, trong quy hoạch Quảng Ninh sẽ định hướng tổ chức lại chính không gian phát triển của mình. Cấu trúc “3 hành lang phát triển - 4 vùng kinh tế, xã hội - 5 trung tâm động lực” không chỉ nhằm tạo các cực tăng trưởng của thành phố, mà còn hình thành một hệ thống chức năng có khả năng kết nối với bên ngoài. Hạ Long phát huy thế mạnh đô thị, dịch vụ và du lịch; Quảng Yên là cực công nghiệp, cảng biển, logistics; Vân Đồn phát triển kinh tế biển, du lịch cao cấp và dịch vụ quốc tế; Móng Cái đảm nhận vai trò cửa ngõ thương mại với Trung Quốc; Yên Tử phát huy giá trị di sản, văn hóa và du lịch. Mỗi nơi một lợi thế, mỗi nơi một chức năng, cùng tạo thành một chỉnh thể có sức lan tỏa.
Khi đó, Quảng Ninh không chỉ là một thành phố biển hiện đại, hay một cực tăng trưởng của vùng Đông Bắc. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng trở thành nơi gặp gỡ của các dòng chảy kinh tế: Giữa nội địa và biển, giữa Việt Nam và Trung Quốc, giữa vùng Đồng bằng sông Hồng với không gian Đông Bắc Á. Đó chính là sứ mệnh lớn hơn của thành phố Quảng Ninh trong không gian phát triển mới, không chỉ phát triển nhanh hơn, mà trở thành một mắt xích quan trọng giúp cả vùng kết nối sâu hơn, phát triển rộng hơn và vươn xa hơn.