Trên địa bàn Quảng Ninh có nhiều hoạt động khai khoáng, công nghiệp, cảng biển và du lịch... Xác định phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là hai yêu cầu song hành trong quá trình phát triển, thành phố đã triển khai nhiều giải pháp kiểm soát nguồn thải, phục hồi môi trường và nâng cao chất lượng môi trường sống, hướng tới phát triển xanh, bền vững.
Là địa bàn có hoạt động khai thác, chế biến than quy mô lớn, Quảng Ninh nhiều năm qua đặt yêu cầu cao đối với công tác bảo vệ môi trường trong ngành công nghiệp khai khoáng. Một trong những thay đổi đáng chú ý là chuyển dần phương thức vận chuyển than từ ô tô sang hệ thống băng tải khép kín.
Tại Công ty Tuyển than Hòn Gai, hệ thống băng tải vận chuyển than Núi Béo - Hà Tu - Trung tâm Chế biến và kho than tập trung vùng Hòn Gai - Làng Khánh được đầu tư với tổng mức hơn 760 tỷ đồng, tổng chiều dài trên 8,85km, gồm 4 tuyến băng tải chính; công suất từng tuyến từ 1,8 đến 4,2 triệu tấn than/năm.
Hệ thống sử dụng băng tải lòng máng kết hợp băng tải uốn và được bao kín, kết nối trực tiếp các mỏ Núi Béo, Hà Tu với kho than tập trung MB+55 và cảng Làng Khánh. Than từ mỏ được đưa theo tuyến chuyên dụng về trung tâm chế biến, kho than rồi tiếp tục ra cảng, thay thế từng bước phương thức vận chuyển bằng ô tô. Trong đó, tuyến dài hơn 4km từ kho than tập trung MB+55 đến cảng Làng Khánh đã được đưa vào vận hành từ cuối năm 2025; các tuyến kết nối còn lại từ mỏ Núi Béo, Hà Tu về kho than tập trung đến nay cơ bản hoàn thành và đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm.
Ông Nguyễn Xuân Tuyên, Phó Giám đốc Công ty Tuyển than Hòn Gai, cho biết: “Trước đây, một lượng lớn than phải vận chuyển bằng ô tô từ khu vực mỏ về trung tâm chế biến, kho than và cảng. Khi hệ thống băng tải được đưa vào vận hành đồng bộ, than sẽ được vận chuyển liên tục trên tuyến khép kín, giảm đáng kể số xe chở than chạy trên đường. Nhờ đó hạn chế được bụi, than rơi vãi, khí thải và tiếng ồn trong quá trình vận chuyển, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất của đơn vị”.
Ở quy mô Tập đoàn, thời gian gần đây TKV dành nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh bình quân khoảng 1.100 tỷ đồng/năm. Hiện các đơn vị trên địa bàn vận hành 48 trạm xử lý nước thải mỏ. Nước từ các moong khai thác, đường lò và mặt bằng sản xuất được thu gom, xử lý trước khi tuần hoàn phục vụ sản xuất hoặc xả ra môi trường theo quy định.
Cùng với xử lý nước thải, các khu vực đã kết thúc khai thác được cải tạo, ổn định sườn tầng, phủ đất và trồng cây, từng bước phục hồi thảm thực vật. Đây là giải pháp vừa cải thiện cảnh quan, vừa hạn chế xói mòn, rửa trôi đất đá và bụi phát tán từ các bãi thải.
Yêu cầu bảo vệ môi trường cũng được đặt ra ngay từ quá trình hình thành và vận hành ở các khu công nghiệp. Theo quy hoạch, Quảng Ninh có 27 khu công nghiệp, trong đó 8 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Các khu công nghiệp đang hoạt động đều được đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung; nước thải từ từng nhà máy phải được xử lý đạt yêu cầu trước khi đấu nối vào hệ thống chung. Quảng Ninh đồng thời chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo quy mô sang chú trọng chất lượng dự án, ưu tiên các ngành điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo và công nghệ cao.
Bà Darawan Plaendee, Giám đốc Công ty TNHH Autoliv Việt Nam tại khu công nghiệp Amata, chia sẻ: “Khi đầu tư nhà máy tại Quảng Ninh, đơn vị xác định ngay từ đầu rằng phát triển sản xuất phải đi cùng với bảo vệ môi trường. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn công nghệ, thiết bị theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng; đồng thời kiểm soát các nguồn phát sinh trong từng công đoạn sản xuất. Đây là yêu cầu duy trì thường xuyên trong quá trình vận hành nhà máy”.
Quảng Ninh tăng cường giám sát chất lượng môi trường thông qua hệ thống quan trắc tự động tại các khu vực, nguồn thải có nguy cơ cao, giúp cơ quan quản lý theo dõi thường xuyên, phát hiện biến động bất thường và phục vụ kiểm tra, cảnh báo, xử lý. Bên cạnh đó, những thay đổi về hạ tầng và tổ chức lại không gian đô thị cũng đang tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường sống.
Bà Đoàn Thị Liên (phường Cẩm Phả) cho biết: “Trước đây khu vực này có bến cá, xe cộ và hoạt động mua bán khá đông nên môi trường cũng bị ảnh hưởng. Từ khi đường bao biển được hình thành, bến cá khu vực Cẩm Thủy được di chuyển vào chợ Bến Do, khu vực này sạch sẽ, thoáng và đẹp hơn hẳn. Buổi chiều người dân ra đây đi bộ, tập thể dục rất đông. Sống ngay gần đây nên chúng tôi cảm nhận khá rõ môi trường và cảnh quan đã thay đổi tốt lên rất nhiều”.
Trong định hướng phát triển dài hạn, yếu tố môi trường tiếp tục được đặt ngay từ khâu quy hoạch. Việc phát triển khu công nghiệp, khu đô thị phải gắn với hạ tầng xử lý nước thải, chất thải và không gian xanh; phát triển các hoạt động du lịch, dịch vụ khu vực ven biển, Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và vùng sinh thái nhạy cảm phải bảo đảm yêu cầu về cảnh quan, đa dạng sinh học và sức chịu tải môi trường.
Việc trở thành thành phố mở ra cho Quảng Ninh một chặng đường mới, với dư địa phát triển lớn hơn. Cùng với những giải pháp đang triển khai và định hướng quy hoạch theo hướng xanh, bền vững, Quảng Ninh đang từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng và đời sống nhân dân.