
Từ đồng đất đến biển khơi - góp sức hậu phương cho tiền tuyến
Vừa chiến đấu, vừa sản xuất, Quảng Ninh cùng nhân dân miền Bắc ra sức chi viện cho đồng bào miền Nam với tinh thần “Nghĩa vụ thừa cân, tuyển quân thừa người”. Những đóng góp to lớn về sức người, sức của của Quảng Ninh đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam, góp sức cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Biến đất mặn thành mùa vàng
Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị đặc biệt ngày 27/3/1964: “Mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”, nhân dân Quảng Ninh đã biến mệnh lệnh từ trái tim thành hành động cụ thể. Từ miền núi đến vùng mỏ, từ đồng bằng ven biển đến hải đảo, các phong trào thi đua, như: “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tay cày, tay súng”, “5 tấn thóc, 2 con lợn trên 1 héc ta gieo trồng”… đã dấy lên sôi nổi trong các tầng lớp nhân dân.

Song để biến các phong trào thi đua thành hiện thực sản xuất, Quảng Ninh đã phải vượt qua không ít trở lực. Vừa sục sôi khí thế cách mạng, tỉnh vừa đối mặt với muôn vàn khó khăn trong phát triển nông nghiệp. Là một địa phương có địa hình đặc thù kết hợp giữa miền núi và ven biển, diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 10% tổng diện tích toàn tỉnh, trong đó đất canh tác còn hạn hẹp, chỉ khoảng 6%, lại chủ yếu là đất bạc màu, chua mặn, chưa được cải tạo đáng kể. Thiên tai dồn dập cộng với cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu, quan hệ sản xuất chuyển biến chậm khiến việc thực hiện các mục tiêu về lương thực, thực phẩm đặt ra trong phong trào thi đua gặp nhiều thách thức ngay từ những bước đi đầu tiên.
Trước thực trạng đó, Đảng bộ tỉnh đã xác định phương hướng phát triển nông nghiệp toàn diện, vững chắc bằng cách đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật trên các mặt: Phân bón, giống, kỹ thuật gieo cấy, thâm canh, đặc biệt là công tác thủy lợi. Cùng với đó, tỉnh triển khai cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã (HTX), cải tiến kỹ thuật trong năm 1965. Tháng 10/1965, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành nghị quyết phân vùng kinh tế nông nghiệp, nhằm khai thác tối đa tiềm năng từng vùng, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Từ đó, các vùng chuyên canh được hình thành phù hợp với điều kiện địa lý, như: Vùng trồng lúa, khoai lang, lạc, rau, đậu, cây ăn quả. Đặc biệt hình thành vùng trồng rau ở các thị xã Hòn Gai, Cẩm Phả và vành đai xung quanh các mỏ. Một số nơi trồng cây ăn quả, như: cam Vân Đồn, Tiên Yên; bưởi, nhãn, na ở Hoành Bồ. Sau khi phân vùng kinh tế, diện tích và cơ cấu cây trồng đã thay đổi rõ rệt.

Để nông nghiệp phát triển bền vững, tỉnh xác định ba mũi tiến công là thủy lợi, phân bón và chăn nuôi. Trong đó, thủy lợi là biện pháp then chốt. Hầu hết các HTX đều lập đội thủy lợi chuyên trách theo phương châm “Dân tự lo, Nhà nước hỗ trợ”. Hệ thống kênh mương, hồ đập phát triển cùng với các công trình quai đê lấn biển, chống xâm nhập mặn, kiến thiết đồng ruộng. Hàng trăm công trình thủy lợi quan trọng được hoàn thành như đê Hà Nam, sông Chanh (Yên Hưng); thủy điện Trường Đoàn (Hoành Bồ); đập Đồng Rui, Yên Than (Tiên Yên); đập Quất Đông, Vạn Ninh (Móng Cái)… giúp nâng diện tích gieo trồng từ 64.978ha (1968) lên 65.796ha (1973).
Cùng với đẩy mạnh công tác thủy lợi, tỉnh cũng triển khai thực hiện “3 khoán” là khoán lao động, khoán công điểm, khoán sản phẩm; “3 quản” là quản lao động, quản kế toán, quản tài chính. Các HTX yếu kém đã được củng cố, phấn đấu trở thành trung bình hoặc khá. Đến năm 1965, toàn tỉnh đã có khoảng 750 HTX, trong đó có 53 HTX đạt tiêu chuẩn thi đua năng suất cao, hoa màu nhiều, chăn nuôi giỏi.
Trong chuyến thăm nhân dân, cán bộ Quảng Ninh vào mùng 1 Tết Nguyên đán Ất Tỵ (ngày 2/2/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều lời khen cho tỉnh. Bác khen các HTX tiêu biểu là những kiểu mẫu tốt mà các HTX khác cần làm theo. Bác nhắc cuộc vận động cải tiến phải làm khẩn trương hơn nhưng làm nơi nào phải chắc nơi ấy. Bác cũng đặc biệt biểu dương Chủ nhiệm HTX Hùng Tiến đã trồng được 12.000 cây và chăm sóc được 11.000 cây lên tốt.

Nhằm đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, tỉnh có chính sách hỗ trợ về lương thực 5% để chăn nuôi, khuyến khích, phát triển chăn nuôi ở cả 2 khu vực tập thể và gia đình. Phong trào thi đua tự túc rau xanh, chăn nuôi lợn bán cho Nhà nước được phát động rộng khắp các huyện, thị xã, như: Hòn Gai, Uông Bí, Cẩm Phả. Đến tháng 10/1973, đàn lợn đã vượt kế hoạch trên 2.800 con, sản lượng thịt hơi tăng 120% so với năm trước. Chăn nuôi phát triển mạnh, Quảng Ninh đã tự túc được trên 40% nhu cầu thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh và cung cấp được lượng thực phẩm rất lớn cho Nhà nước.
Tinh thần lao động hăng say đã giúp Quảng Ninh từ năm 1964-1968 cung cấp 42.240 tấn lương thực cho Nhà nước, chiếm bình quân 13,2% sản lượng hằng năm. Ngoài ra còn có thịt lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, trứng, lạc, đậu tương… Năm 1964, sản lượng lương thực đạt gấp 2,5 lần năm 1955 của khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, được Thủ tướng tặng bằng khen. Năm 1966, Quảng Ninh dẫn đầu miền Bắc trong phong trào trồng rừng phủ xanh đồi trọc. Tổng sản lượng lương thực năm 1973 đạt trên 85.000 tấn. Nhiều HTX đạt năng suất cao, điển hình là 3 HTX của huyện Tiên Yên đã đạt 5 tấn thóc/ha. Giai đoạn 1974-1975, tỉnh cung cấp 1 vạn tấn lương thực, 13.500 tấn rau, 6 triệu quả trứng và riêng năm 1975 là 4.500 tấn thịt lợn cho Nhà nước, tiếp tục khẳng định vai trò hậu phương vững chắc.

Ra khơi vì tiền tuyến
Phát huy thế mạnh về biển, đầu năm 1970, Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 20 khôi phục và phát triển nghề cá để góp phần phát triển kinh tế địa phương, kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng. Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy, ngành thủy sản tích cực đầu tư thêm phương tiện cơ giới đánh bắt cá trong lộng kết hợp với ngoài khơi, thành lập các đội đánh cá xa bờ, đẩy mạnh nghề khai thác và nuôi trồng thủy hải sản, quy hoạch vùng chuyên canh, nuôi cá nước ngọt, nước lợ.
Năm 1971, ngành thủy sản đã đánh bắt cá đạt trên 103% kế hoạch. Năm 1972, giặc Mỹ tiếp tục gây chiến tranh phá hoại, sản lượng đánh cá vẫn xấp xỉ đạt mức năm 1971, những cố gắng đó đã góp phần vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trong tỉnh, phục vụ đời sống công nhân, nhất là ngành Than.
Ngay khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt, ngư dân Cẩm Phả vẫn quyết tâm “bám biển sản xuất”. Giai đoạn này, ngư dân đã cải tiến sang nghề giã (giã đôi và giã đơn), tăng trọng tải của thuyền từ 8-10 tấn lên các tàu 20-40 tấn. Ngư dân HTX Tân Phong (Quan Lạn) đã có kỹ thuật dùng trục quay thủ công kéo giềng, đánh dấu bước tiến bộ kỹ thuật của nghề vây thủ công, mở ra khả năng thực hiện bán cơ giới và cơ giới hóa nghề lưới vây. Tại Cẩm Phả đã có trại giống cá nước ngọt (chép, mè, trôi, trắm...).
Đến tháng 10/1973, toàn ngành thủy sản đã có 90 thuyền từ 12-18 tấn, các HTX đánh cá được trang bị thêm 20 tấn thuyền máy. Tỉnh cũng thực hiện một số chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất bám biển dài ngày. Vụ cá Nam năm 1973, Quảng Ninh đánh được 8.000 tấn cá biển, tăng 1.000 tấn so với năm 1972, cả năm toàn tỉnh đánh bắt được trên 12.000 tấn, bình quân mỗi lao động đạt 7 tấn cá/năm. Các HTX Phố Vằn Chảy, Chiến Thắng, Hải Tân, Cô Tô là những đơn vị đánh bắt cá đạt năng suất cao. Các HTX đã bán cho Nhà nước 77% sản lượng cá đánh được, hoàn thành nghĩa vụ cung cấp chượp (cá ướp muối) cho Trung ương.

Đến năm 1974, năng suất lao động trong nghề cá của tỉnh đạt 2,9 tấn, gấp 2 lần năm 1964, là năm đạt sản lượng cao nhất, được nhận cờ thi đua “Tỉnh có nghề cá khá nhất” của Tổng cục Thủy sản. HTX Hải Tấn (Quảng Hà) được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, được Bác Tôn tặng lẵng hoa.
Tháng 4/1975, tỉnh tổ chức cuộc vận động tiết kiệm và vay lương thực để giúp đỡ đồng bào vùng mới giải phóng ở miền Nam. Các HTX đã thi đua bán sản phẩm cho Nhà nước để cung cấp cho miền Nam. Năm 1974, toàn tỉnh có 22 HTX hoàn thành vượt mức kế hoạch bán cá nghĩa vụ cho Nhà nước. Trong đó HTX Hồng Hải, Quyết Tiến, Chiến Thắng bán cá cho Nhà nước đạt 90-94% tổng sản lượng cá khai thác được, dẫn đầu toàn tỉnh về bán sản phẩm.
Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm lương thực cho nhân dân và tiền tuyến, nghề cá Quảng Ninh trong kháng chiến chống Mỹ còn góp phần trực tiếp vào nhiệm vụ chiến đấu. Kể từ khi giặc Mỹ ném bom, bắn phá miền Bắc, vận chuyển vũ khí hàng hóa vào khu IV và chiến trường miền Nam trở nên khó khăn, vì vậy Trung ương quyết định chuyển bằng đường thủy. Các Huyện ủy Móng Cái, Cẩm Phả, Yên Hưng được Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy Quảng Ninh giao trách nhiệm đảm nhận nhiệm vụ này.
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, Huyện ủy Móng Cái đã huy động phương tiện vận tải của các HTX Hòa Bình, Việt Hoa và một số thuyền của hai HTX Vạn Long, Hải Thành, tổng số 16 chiếc thuyền buồm với trọng tải từ 25-35 tấn/chiếc và 20 chiếc thuyền máy trọng tải từ 80-120 tấn/thuyền, tổng cộng 1.859 tấn phương tiện đã lên đường thực hiện nhiệm vụ.

Với lòng căm thù giặc sâu sắc, tất cả vì miền Nam ruột thịt, đoàn vận tải không quản gian khổ hy sinh, luôn luôn chủ động, sáng tạo, kiên trì và dũng cảm giao chuyến hàng đầu tiên tại Bến Thủy, tỉnh Nghệ An. Quá trình vận chuyển tiếp theo bị địch phát hiện, chúng tiến hành quấy phá, vây bắt thuyền ta. Được bộ đội và dân quân các địa phương hỗ trợ, tàu thuyền của ta đã chủ động đánh địch mở đường mà đi. Chiếc này bị đánh phá, người bị hy sinh, chiếc khác vẫn dũng cảm tiến lên, mang hàng vào cho tiền tuyến. Cùng với các HTX vận tải huyện Móng Cái, đội vận tải HTX Quang Minh, huyện Cẩm Phả cũng tham gia vận chuyển vũ khí, hàng hóa vào tuyến lửa khu IV, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Ba và cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Cuối năm 1968, nhận được Chỉ thị của Trung ương tăng cường lực lượng đột xuất vận chuyển hàng hóa cho tiền phương, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã giao cho Huyện ủy Yên Hưng chịu trách nhiệm. Chỉ trong 20 ngày, huyện Yên Hưng đã huy động 500 tấn thuyền và 91 cán bộ đảng viên, đoàn viên cùng xã viên HTX lên đường phục vụ tuyến lửa khu IV trong khoảng thời gian 5 tháng. Cán bộ thuyền viên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được Bộ Tư lệnh tiền phương khen ngợi.
Vượt lên những thiệt hại nặng nề do sự tàn phá ác liệt trong chiến tranh phá hoại, Quảng Ninh đã nỗ lực khôi phục, phát triển kinh tế và thực hiện tốt nghĩa vụ với tiền tuyến lớn. Từ đồng đất đến biển khơi, mỗi tấn thóc, mỗi con thuyền, mỗi chuyến hàng đều mang theo nghĩa tình và trách nhiệm với miền Nam ruột thịt, góp phần làm nên thắng lợi chung của dân tộc.
Ý kiến ()