
Vùng mỏ Quảng Ninh đáp lời hiệu triệu “Vì miền Nam ruột thịt”
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Ninh vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, vừa là hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, toàn tỉnh đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước sâu rộng, trở thành điểm sáng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong suốt cuộc kháng chiến.
Sục sôi khí thế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
Ngay từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, các phong trào “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Ba sẵn sàng” nhanh chóng lan tỏa khắp các địa phương trong tỉnh. Các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, công nhân ngành Than, đã xung phong vào tuyến lửa, phục vụ chiến trường miền Nam.
Sau chiến thắng trận đầu ngày 5/8/1964, phong trào thi đua chống Mỹ cứu nước diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Toàn tỉnh có 3 vạn thanh niên, bộ đội phục viên, xuất ngũ làm đơn đăng ký tình nguyện xin được nhập ngũ hoặc tái ngũ. Thanh niên khu mỏ phát động phong trào “Ba rèn luyện, Ba sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước, mở đầu cho phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng” của thanh niên miền Bắc. Đặc biệt, 46 bà mẹ và vợ bộ đội ở thị xã Cẩm Phả đã gửi thư về Tỉnh Đội: “Chúng tôi xin hứa đảm bảo sản xuất than để chồng con đi chiến đấu, đảm nhiệm gia đình để chồng con yên tâm tại ngũ”.

Phong trào không chỉ dừng lại ở mặt trận chiến đấu mà còn lan tỏa mạnh mẽ vào mọi mặt đời sống, sản xuất. Đáp lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều gia đình đã tiễn tới 5 người con ra trận, nhiều sĩ quan phục viên và cán bộ miền Nam tập kết đã tình nguyện tái ngũ, trở về chiến trường. Hưởng ứng “Lệnh động viên cục bộ” của Nhà nước và lời kêu gọi của Bác ngày 17/7/1966, nhiều cán bộ, chiến sĩ công an, quân đội, công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên đã hăng hái tình nguyện vào Nam chiến đấu.
Trong khí thế thi đua “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, cùng với hàng vạn thanh niên lên đường nhập ngũ, lực lượng Công an Quảng Ninh cũng đã có những đóng góp thầm lặng mà đặc biệt. Song song với nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương, 100% cán bộ, đảng viên, đoàn viên, chiến sĩ Công an tỉnh đã viết đơn tình nguyện. Trong đó, hơn 200 cán bộ, chiến sĩ có sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực nghiệp vụ đã được lựa chọn tăng cường cho chiến trường miền Nam, góp phần bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cách mạng, đảm bảo an ninh - trật tự trong lòng địch.
Tiêu biểu và đặc biệt nhất trong lực lượng lên đường chi viện miền Nam là Binh đoàn Than - binh đoàn duy nhất của cả nước mang tên một ngành nghề và vùng đất: Ngành Than, Quảng Ninh. Được thành lập vào năm 1967 trong khí thế sục sôi “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, Binh đoàn quy tụ những công nhân ưu tú từ các mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí. Chỉ trong 4 ngày, từ 27/7 đến 30/7/1967, gần 2.000 thợ mỏ đã được huy động, tổ chức thành ba Tiểu đoàn: 385, 386 (gồm khoảng 1.100 thợ mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả) và Tiểu đoàn 9 (tập hợp nhiều ngành nghề khác, khoảng 900 người). Tỉnh ban đầu định đặt tên là “Trung đoàn Than” hay “Sư đoàn Than”, nhưng để giữ bí mật và gây bất ngờ cho địch, cái tên “Binh đoàn Than” được lựa chọn, thể hiện đầy đủ niềm tự hào của Vùng mỏ công nghiệp.
Tại chiến trường, Binh đoàn Than đã chiến đấu rất anh dũng, lập được nhiều chiến công xuất sắc. Có 112 người được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” ngay từ những trận chiến đấu đầu tiên, tiêu biểu như Vi Quang An, Lê Thanh Kiểm, Đỗ Ngọ. Những người lính đặc biệt ấy không chỉ mang theo tinh thần yêu nước sục sôi, mà còn là kết tinh của truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm", của ý chí và bản lĩnh người thợ mỏ Quảng Ninh.
Trong hồi ký của mình, ông Nguyễn Ngọc Đàm, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, từng viết đầy tự hào: “Những người lính Binh đoàn Than được sinh ra và lớn lên, được rèn luyện trong môi trường lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, họ là những người thợ có học thức lại được kế thừa truyền thống ‘Kỷ luật và Đồng tâm’, họ là những công nhân ưu tú tình nguyện ra nhập ngũ vào miền Nam đánh Mỹ. Trước một cao trào sục sôi khí thế đánh Mỹ và thắng Mỹ của đồng bào và chiến sĩ cả nước, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước chính là yếu tố tạo nên sức mạnh cho các chiến sĩ Binh đoàn Than. Binh đoàn Than đã trở thành biểu tượng của khí thế cách mạng từ Vùng mỏ hướng về tiền tuyến lớn, để lại dấu ấn chói sáng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”

Giai đoạn 1965-1968, tỉnh Quảng Ninh năm nào cũng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu giao quân, với tỷ lệ vượt từ 2% trở lên. Trong 3 năm (từ 1969-1971), công tác tuyển quân được bảo đảm cả về số lượng, chất lượng và thời gian quy định. Năm 1971, huyện Móng Cái số quân tuyển được gấp 5 lần so với 2 năm 1969-1970. Các huyện Tiên Yên, Quảng Hà đảm bảo 100% chỉ tiêu. Năm 1972, Quảng Ninh thực hiện 3 đợt tuyển quân, giao quân vượt chỉ tiêu 8,7%, là năm tuyển số quân nhiều nhất. Các huyện, thị xã đều vượt chỉ tiêu. Bảy xã của hai huyện Quảng Hà, Tiên Yên từ chỗ chỉ có 2 thanh niên đi bộ đội, đến năm 1970, riêng 4 xã đã có 47 thanh niên nhập ngũ, xã Đường Hoa (1971-1972) có 67 thanh niên nhập ngũ. Các huyện Yên Hưng, Móng Cái, Quảng Hà là những huyện trước đây tuyển quân thường rất khó khăn, năm 1972 đã vượt chỉ tiêu từ 12-18%. Các xã thuộc thị xã Uông Bí đều mở hội tòng quân, sau học tập Lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chính phủ, Ban Quân sự thị xã nhận được hàng trăm đơn tình nguyện của đoàn viên thanh niên xin đi chiến đấu.
Riêng đến giữa tháng 3/1975, Quảng Ninh vượt 16% chỉ tiêu, là một trong 2 tỉnh hoàn thành xuất sắc nhất việc tuyển quân chi viện cho chiến trường được Quân khu và Chính phủ biểu dương. Hàng trăm nghìn lượt dân công hỏa tuyến được huy động, tổ chức tiếp nhận và huấn luyện hàng vạn tân binh, đảm bảo chi viện đều đặn cho các chiến trường B2, Trị Thiên - Huế, Tây Nguyên và cả Lào, Campuchia.
![]() Khi chiến tranh phá hoại lần thứ hai diễn ra năm 1972, lực lượng tại chỗ của Quảng Ninh mỏng do phần lớn đã chi viện miền Nam. Tuy nhiên, với tinh thần “Ba sẵn sàng” được hun đúc, các đơn vị pháo cao xạ - hơn 80% là đoàn viên thanh niên, đã hình thành nhanh chóng và phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực, góp phần bắn rơi 200 máy bay Mỹ, bảo vệ Vùng mỏ an toàn. Tiêu biểu như đơn vị của đồng chí Đặng Bá Hát - Xí nghiệp bến Hòn Gai, có tới gần 100% là ĐVTN, đã lập nên nhiều chiến công. Ông Vũ Cẩm, nguyên Bí thư Tỉnh Đoàn Quảng Ninh khoá I, từng chia sẻ: Từ phong trào “Ba rèn luyện, Ba sẵn sàng”, cả một thế hệ thanh niên Vùng mỏ xung kích, tình nguyện ra trận. Thậm chí, có gia đình cả 5 anh em đều nộp đơn tình nguyện ra mặt trận; có những người không đủ tuổi đã bí mật khai tăng tuổi, không đủ cân nặng thì đeo đá vào người, lại có người dùng máu của mình để viết đơn tình nguyện tòng quân. Các đội thanh niên xung phong, thanh niên xung kích, thanh niên cờ đỏ lần lượt ra đời nhằm phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, khắc phục hậu quả chiến tranh. Tuổi trẻ Quảng Ninh sôi sục khí thế với các khẩu hiệu: “Tay búa - Tay súng”, “Tay cày - Tay súng”, “Tay bút - Tay súng”… Tổng kết phong trào “Ba sẵn sàng”, Thanh niên Quảng Ninh được Trung ương Đoàn trao tặng Cờ luân lưu xuất sắc nhất của Bác Hồ. |
Sẵn sàng lao động sản xuất, chi viện sức của cho tiền tuyến
Cùng với công tác tuyển quân, phong trào thi đua sản xuất - chiến đấu diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ. Công nhân Vùng mỏ Cẩm Phả, Hòn Gai, Hà Tu, Mạo Khê, Đèo Nai, Cửa Ông… vừa lao động trong tầng lò sâu, vừa khắc phục bom đạn, đảm bảo duy trì nhịp độ khai thác than phục vụ công cuộc kháng chiến.
Có những thời điểm, sản lượng than vượt kế hoạch đến 196%, tiêu biểu như tháng 7/1955, toàn khu mỏ đạt sản lượng 31.040 tấn. Từ năm 1955 đến 1975, công nhân ngành Than Quảng Ninh đã sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hàng trăm đề tài, góp phần tiết kiệm chi phí hàng triệu đồng và bảo đảm sản xuất liên tục trong điều kiện chiến tranh phá hoại ác liệt. Năm 1965, sản lượng than đạt 3 triệu tấn, gấp 2 lần sản lượng than cao nhất thời thuộc Pháp, ngành Than được Bác Hồ tặng thưởng “Cờ thưởng luân lưu đơn vị khá nhất”.

Sản lượng điện năm 1965 gấp 700% năm 1955. Nông nghiệp cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch, sản lượng lương thực năm 1964 cao gấp 2,5 lần so với năm 1955, được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Năm 1966, Quảng Ninh là tỉnh dẫn đầu các tỉnh miền Bắc về trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc. Cuộc vận động “Cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp” được đẩy mạnh, tăng cường công tác “Ba quản, ba khoán”, thực hiện chế độ công khai tài vụ, đẩy mạnh công tác thủy lợi, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, phát triển mạnh mẽ chăn nuôi, góp phần đưa sản lượng lương thực quy ra thóc tăng từ 99.790 tấn năm 1965 lên 101.317 tấn năm 1975.
Tại các huyện miền núi như Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên và Hải Hà, đồng bào dân tộc thiểu số tích cực trồng rau, khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, góp phần bảo đảm lương thực tại chỗ. Nông dân Đông Triều, Yên Hưng, Hoành Bồ… đẩy mạnh sản xuất vụ mùa, giữ vững hậu phương. Toàn tỉnh đã chi viện hơn 6 vạn tấn lương thực, hàng vạn bộ quần áo, thuốc men và các nhu yếu phẩm thiết yếu cho chiến trường miền Nam.
Trong hai năm 1974-1975, Quảng Ninh đã cung cấp cho Nhà nước một vạn tấn lương thực, 13.500 tấn rau xanh, 6 triệu quả trứng. Riêng năm 1975, cung cấp 4.500 tấn thịt lợn.

Những đóng góp to lớn về sức người, sức của của Quảng Ninh đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam, góp sức cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Ninh đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Hàng trăm đơn vị, cá nhân được tặng Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hình ảnh những công nhân mỏ, chiến sĩ hậu phương, người dân các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc vượt mọi gian khổ, “tay búa, tay súng”, “tay cày, tay súng” vì miền Nam ruột thịt, mãi là biểu tượng sống động của lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ý kiến ()