Ngành Than trong hành trình phát triển thành phố Quảng Ninh

anh-bia.jpg

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, trong đó than đá là tài nguyên đặc biệt quan trọng với trữ lượng ước tính 8,8 tỷ tấn. Riêng vùng than trải dài từ Đông Triều đến Cẩm Phả có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, chiếm hơn 90% trữ lượng than của cả nước. Từ nguồn tài nguyên này, ngành Than hình thành và phát triển, trở thành một phần không thể tách rời trong lịch sử Vùng mỏ, đồng thời giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế - xã hội Quảng Ninh.

tp11.png

Quảng Ninh được xác định là cái nôi của ngành công nghiệp than Việt Nam, nơi những vỉa than đầu tiên được khai thác từ giữa thế kỷ XIX tại Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều. Cùng với quá trình khai thác than, đội ngũ công nhân mỏ từng bước hình thành, trở thành một lực lượng xã hội có vai trò quan trọng trong phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam.

Dấu mốc nổi bật là ngày 12/11/1936, khi hơn 3 vạn thợ mỏ vùng Hòn Gai - Cẩm Phả tổ chức Tổng bãi công, đấu tranh chống chế độ áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và tay sai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những người thợ mỏ đoàn kết đấu tranh với tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”, giành thắng lợi.

Cuộc Tổng bãi công ngày 12/11/1936 trở thành dấu mốc đặc biệt trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam, đồng thời hình thành truyền thống tiêu biểu của công nhân Vùng mỏ và ngành Than. Từ đó, “Kỷ luật và Đồng tâm” được các thế hệ thợ mỏ tiếp nối trong lao động, sản xuất và xây dựng quê hương.

208d023dd86ff90e28126d49589a1bbb-5852.jpg
Bốc xúc đất đá, khai thác than tại Công ty CP Than Đèo Nai - Cọc 6 - TKV.

Ngày 25/4/1955, Vùng mỏ hoàn toàn được giải phóng. Sau khi tiếp quản, công nhân mỏ nhanh chóng khôi phục sản xuất, đưa hoạt động khai thác than trở lại ổn định, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lớp lớp người con Quảng Ninh và Binh đoàn Than lên đường ra chiến trường. Ở hậu phương, công nhân tại các công trường, hầm mỏ, nhà máy tiếp tục thi đua sản xuất, cung cấp than cho tiền tuyến, góp phần bảo đảm nguồn lực phục vụ cuộc kháng chiến.

21aa19dc094b8bf889b4ff0fbd8a35a8-4857.jpg
Hệ thống cơ giới hoá đồng bộ khai thác than tại Công ty CP Than Hà Lầm.

Sau ngày đất nước thống nhất, ngành Than tiếp tục cùng quân và dân Quảng Ninh bước vào thời kỳ khôi phục, xây dựng và phát triển. Ngày 10/10/1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức và hoạt động của ngành.

Từ đây, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” tiếp tục được phát huy trong chiến lược phát triển, trở thành nguồn sức mạnh nội sinh để ngành Than đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, sản lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

tp1.png

Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, ngành Than vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế Quảng Ninh. Hoạt động khai thác, chế biến và tiêu thụ than tạo việc làm thường xuyên cho gần 70.000 lao động, tập trung tại những địa bàn có lịch sử gắn bó lâu đời với ngành như Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều.

Vai trò của ngành Than không chỉ thể hiện ở sản lượng khai thác hay đóng góp ngân sách. Hoạt động của ngành gắn trực tiếp với đời sống của hàng vạn gia đình công nhân, sự phát triển đô thị, hạ tầng và các dịch vụ tại nhiều địa bàn của Quảng Ninh.

57d3705eff70f057f58167d58c09f58a-6964.jpg
Phút giải lao của những người thợ mỏ.

Mối quan hệ giữa Quảng Ninh và ngành Than vì vậy được hình thành từ lịch sử, được duy trì bằng sự đồng hành và trách nhiệm cùng chia sẻ trong phát triển. Quảng Ninh tạo điều kiện về quy hoạch, hạ tầng, giải phóng mặt bằng, thủ tục, môi trường và phối hợp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất; ngành Than đóng góp nguồn lực, việc làm và nguồn thu cho địa phương. Tài nguyên than tạo nên một ngành công nghiệp đặc trưng, ngành công nghiệp tạo nên đội ngũ công nhân mỏ, còn người thợ mỏ qua nhiều thế hệ góp phần tạo dựng bản sắc Vùng mỏ. Mối quan hệ ấy vượt ra ngoài phạm vi của một ngành kinh tế, trở thành một phần trong lịch sử hình thành và phát triển của Quảng Ninh.

Trong quá trình đó, ngành Than đã góp phần tạo dựng diện mạo Vùng mỏ và trở thành một trong những trụ cột của kinh tế Quảng Ninh. Qua nhiều giai đoạn phát triển, những tấn than được khai thác không chỉ cung cấp nguồn năng lượng cho đất nước, mà còn tạo việc làm, thu nhập, nguồn thu ngân sách và thúc đẩy sự phát triển của các đô thị, dịch vụ, hạ tầng tại nhiều địa bàn của thành phố Quảng Ninh. Vai trò đó tiếp tục được thể hiện rõ trong giai đoạn 2020-2025, khi ngành Than phải đồng thời ứng phó với đại dịch Covid-19, thiên tai, biến động thị trường năng lượng và yêu cầu chuyển đổi xanh. Trong điều kiện nhiều sức ép, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) vẫn duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp ổn định cho nền kinh tế địa phương.

d8ede02467d671b3b9ea9a588feb5c1b-4461.jpg
Hệ thống phun sương tự động giúp môi trường sản xuất luôn an toàn.

Trong 5 năm, TKV khai thác hơn 170 triệu tấn than nguyên khai, đạt doanh thu trên 900.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 5,2%/năm; năng suất lao động tăng gần 8%/năm. Năm 2025, thu nhập bình quân của người lao động đạt trên 19,5 triệu đồng/người/tháng, trong đó nhiều thợ lò có thu nhập 500-700 triệu đồng/năm. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô sản xuất của ngành Than, mà còn cho thấy sức lan tỏa của ngành đối với thị trường lao động, đời sống người dân và hoạt động kinh tế - xã hội tại các địa bàn Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, TKV sản xuất 19,7 triệu tấn than sạch, tiêu thụ gần 27,4 triệu tấn, doanh thu đạt trên 94.100 tỷ đồng. Đặc biệt, TKV nộp ngân sách nhà nước hơn 14.000 tỷ đồng, trong đó nộp tại Quảng Ninh trên 10.400 tỷ đồng. Đây là nguồn lực trực tiếp bổ sung cho ngân sách địa phương, đồng thời cho thấy vị trí đặc biệt của ngành Than trong tạo nguồn thu và duy trì động lực tăng trưởng của Quảng Ninh. Trong hành trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% năm 2026, đóng góp từ một ngành kinh tế có quy mô sản xuất lớn, tạo việc làm cho gần 70.000 lao động và đóng góp hàng chục nghìn tỷ đồng vào ngân sách tiếp tục là một nguồn lực quan trọng đối với thành phố Quảng Ninh.

46f0092b09bc02b6f1fde0f61ebdfb41-4329.jpg
Toàn cảnh khu vực Nhà tuyển than Cửa Ông (Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam).

Từ những vỉa than đầu tiên đến một ngành công nghiệp có quy mô lớn, ngành Than đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử hình thành và phát triển Vùng mỏ, góp phần tạo dựng diện mạo kinh tế - xã hội của thành phố Quảng Ninh hôm nay. Bước vào chặng đường mới, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” tiếp tục được đặt trong yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn: làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo đảm an toàn và giảm tác động đến môi trường. Đây cũng là cách để giá trị của ngành Than được tiếp nối trong một diện mạo hiện đại, xanh và bền vững hơn.

Trong không gian phát triển mới của thành phố Quảng Ninh, ngành Than vẫn có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, nguồn thu và bảo đảm năng lượng, đồng thời đứng trước yêu cầu chuyển mình để thích ứng với mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế số. Khi những cực tăng trưởng mới được hình thành, các đô thị tiếp tục mở rộng và kinh tế biển, dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao ngày càng phát triển, ngành Than sẽ không đứng ngoài quá trình chuyển đổi ấy, mà cần trở thành một bộ phận của tiến trình phát triển xanh, hiện đại của thành phố.

0f1d7acab2b91909a276b39d9e526d59-9070.jpg
Ngành Than đang chuyển mạnh từ phương thức sản xuất truyền thống sang phát triển xanh, bền vững, với phương châm “đưa công viên vào trong mỏ”.

Từ sức mạnh đã được hun đúc qua nhiều thế hệ, Quảng Ninh và ngành Than tiếp tục đồng hành trên một chặng đường mới: vừa phát huy giá trị của một ngành kinh tế có truyền thống và đóng góp lớn, vừa đổi mới phương thức phát triển để cùng tạo dựng một thành phố Quảng Ninh xanh, hiện đại, giàu bản sắc và có năng lực cạnh tranh cao trong tương lai.

Thực hiện: Thu Nguyên
Trình bày: Vũ Đức

Có thể bạn quan tâm