Thành phố Quảng Ninh có nhiều lợi thế để phát triển logistics thành ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Để biến lợi thế thành năng lực cạnh tranh, thành phố đang tập trung hoàn thiện thể chế, đồng bộ hạ tầng, thu hút doanh nghiệp lớn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, từng bước hình thành hệ sinh thái logistics hiện đại, có sức cạnh tranh trong khu vực.
Những năm qua, Quảng Ninh đã dành nguồn lực lớn đầu tư, hoàn thành và đưa vào khai thác nhiều công trình giao thông có tính kết nối liên vùng như cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả, cầu Cửa Lục 1, cầu Cửa Lục 3, Quốc lộ 18C, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh... Hệ thống hạ tầng ngày càng đồng bộ, rút ngắn khoảng cách giữa các trung tâm kinh tế, tạo nền tảng kết nối hàng hóa từ cửa khẩu, cảng biển đến khu công nghiệp, trung tâm sản xuất và thị trường tiêu thụ.
Đáng chú ý, Quảng Ninh là một trong số ít địa phương có đủ 5 phương thức vận tải đang được khai thác gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, hàng hải và hàng không. Đây là lợi thế quan trọng để hình thành mạng lưới vận tải đa phương thức, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về thời gian, chi phí và tính linh hoạt của chuỗi cung ứng.
Cảng Cái Lân với hệ thống bến cảng nước sâu hiện đại, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, logistics và phát triển kinh tế biển.
Trên địa bàn hiện có hệ thống cảng biển với 15 cảng biển, 44 cầu cảng, 3 bến phao và 11 tuyến luồng hàng hải. Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển đạt hơn 93,7 triệu tấn, tăng 14,21% so với cùng kỳ năm 2025. Số lượt tàu biển có trọng tải trên 200 DWT cũng tăng gần 5%. Đây là nguồn hàng quan trọng để phát triển các dịch vụ hậu cần cảng biển, vận tải, kho bãi, giao nhận và phân phối. Trong hệ thống đó, Cảng Con Ong - Hòn Nét được xác định là một trong những hạt nhân quan trọng để nâng tầm logistics. Khu vực có độ sâu tự nhiên khoảng -9,1m, nằm trong vùng nước tương đối kín gió, ít chịu tác động của sóng lớn và ít bị sa bồi, thuận lợi cho hoạt động bốc xếp, chuyển tải hàng hóa. Cảng có khả năng kết nối với Quốc lộ 18, Quốc lộ 279, cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái và được định hướng kết nối với tuyến đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái bằng tuyến nhánh.
Đặc biệt, định hướng phát triển Con Ong - Hòn Nét đang chuyển từ tư duy đầu tư một công trình cảng đơn thuần sang xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển và logistics. Khu vực được định hướng phát triển cảng nước sâu hiện đại, xanh, thông minh, gắn với dịch vụ hậu cần, trung chuyển và logistics, qua đó mở rộng không gian kinh tế biển của thành phố. Việc thành phố ký bản ghi nhớ hợp tác chiến lược với Viện Hàng hải Đông Bắc (NMI - Hoa Kỳ) vào tháng 4/2026 để nghiên cứu phát triển Cảng Con Ong - Hòn Nét và sáng kiến hàng hải Quảng Ninh cho thấy định hướng này đang được tiếp cận ở tầm quốc tế. Mục tiêu không chỉ nâng năng lực tiếp nhận hàng hóa mà còn hướng tới hình thành trung tâm logistics, trung chuyển hàng hóa có khả năng tham gia sâu hơn vào mạng lưới thương mại khu vực.
Ở phía Đông, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh tạo thêm một mắt xích quan trọng cho chuỗi logistics gắn với kinh tế cửa khẩu. Dự án có diện tích 82,79ha, tổng mức đầu tư giai đoạn 1 hơn 2.248 tỷ đồng. Cùng với hệ thống hạ tầng sau cảng, tuyến đường vào cảng được hoàn thiện sẽ góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển thương mại biên giới và dịch vụ hậu cần cảng biển.
Nếu Con Ong - Hòn Nét tạo thêm năng lực trung chuyển hàng hóa bằng đường biển, Vạn Ninh tăng khả năng kết nối với khu vực cửa khẩu thì Móng Cái đang từng bước hình thành mô hình logistics biên giới dựa trên công nghệ.
Ngày 11/2/2026, Quảng Ninh và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) khởi động xây dựng Cửa khẩu thông minh Móng Cái - Đông Hưng. Giai đoạn 1 trong năm 2026 tập trung xây dựng hạ tầng kỹ thuật, các luồng chuyên dụng và Trung tâm điều hành thông minh; giai đoạn 2027-2030 tiếp tục mở rộng quy mô, tăng năng lực thông quan, phát triển logistics, thương mại điện tử và kho bãi hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ 5G, phương tiện tự hành, nhận diện sinh trắc học, cổng kiểm soát tự động và trung tâm điều hành thông minh sẽ từng bước thay đổi phương thức vận hành cửa khẩu, giảm thời gian chờ đợi, chi phí cho doanh nghiệp và nâng hiệu quả của chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Như vậy, lợi thế logistics của thành phố không nằm ở một công trình riêng lẻ mà đang được hình thành từ sự kết nối của nhiều mắt xích, như giao thông, cảng biển, cửa khẩu, khu công nghiệp, khu kinh tế, hàng không và đường sắt. Khi những mắt xích này được kết nối bằng hạ tầng, dữ liệu và dịch vụ chuyên nghiệp, lợi thế về vị trí địa kinh tế sẽ từng bước chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh.
Hạ tầng là điều kiện cần, song để logistics trở thành ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, thành phố cần đồng thời hoàn thiện thể chế, nâng năng lực doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và hình thành hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp.
Hiện trên địa bàn có 2.387 doanh nghiệp đăng ký loại hình logistics, với tổng vốn đăng ký khoảng 9.700 tỷ đồng. Năm 2025, khu vực này nộp ngân sách 1.605 tỷ đồng, tương đương 2,32% tổng thu ngân sách nhà nước nội địa. Những con số này cho thấy logistics đã hình thành một khu vực kinh tế đáng kể, song dư địa phát triển vẫn còn rất lớn so với lợi thế về cửa khẩu, cảng biển, hạ tầng giao thông và quy mô giao thương.
Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Công Thương, Quảng Ninh hội tụ nhiều điều kiện để trở thành một trong những trung tâm dịch vụ logistics trọng điểm của cả nước. Thành phố đang kiến nghị Trung ương xem xét, chính thức hóa vai trò này, qua đó tạo thêm cơ chế, chính sách và sức hút để các tập đoàn logistics lớn đầu tư, đặt trụ sở, chi nhánh và trung tâm phân phối trên địa bàn.
Để tạo hành lang phát triển đồng bộ, thành phố đang triển khai các nhiệm vụ theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg, trong đó, Kế hoạch 326 gồm 32 nhiệm vụ trọng tâm thuộc 7 lĩnh vực. Thành phố cũng thành lập Tổ công tác đặc biệt do Chủ tịch UBND thành phố làm Tổ trưởng để đôn đốc, giám sát tiến độ thực hiện hằng tháng. Trọng tâm là hoàn thiện chính sách hỗ trợ, phát triển hạ tầng logistics, thúc đẩy liên kết vùng, đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Cách tiếp cận mới đặt yêu cầu không chỉ phát triển cảng, cửa khẩu mà phải hình thành đầy đủ chuỗi dịch vụ phía sau, từ kho bãi, vận tải, giao nhận, bảo quản, đóng gói, phân phối đến khai báo hải quan, thương mại điện tử, bảo hiểm và tài chính. Giá trị của logistics vì thế không chỉ nằm ở việc vận chuyển hàng hóa mà còn ở khả năng tổ chức toàn bộ dòng hàng với thời gian, chi phí và độ tin cậy tối ưu.
Ở cấp Trung ương, Bộ Công Thương đang chủ trì tham mưu sửa đổi Nghị định số 163/2017 về kinh doanh dịch vụ logistics; đồng thời xây dựng quy định về phân loại, phân hạng trung tâm logistics và Đề án phát triển hệ thống trung tâm logistics. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương và doanh nghiệp đầu tư, quản lý, khai thác các trung tâm logistics theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
Hải quan cửa khẩu cảng Cẩm Phả tổ chức hội nghị hải quan - doanh nghiệp để bàn các giải pháp phát triển hoạt động logistics tại cảng Cẩm Phả tháng 3/2026.
Trong không gian phát triển mới, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi thành phố Quảng Ninh chính thức được thành lập từ ngày 1/9/2026. Không gian kinh tế rộng hơn đòi hỏi cách tổ chức các dòng hàng, dòng vốn và dòng dịch vụ cũng phải thay đổi tương ứng. Logistics vì vậy cần được nhìn nhận không chỉ là dịch vụ hỗ trợ sản xuất, thương mại mà còn là một cấu phần quan trọng của năng lực cạnh tranh đô thị và năng lực hội nhập quốc tế.
Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu ( Bộ Công Thương), với những lợi thế hiện có, Quảng Ninh còn nhiều dư địa để phát triển logistics. Trong đó, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn có thể nghiên cứu chuyển trọng tâm sang khai thác hàng hóa, hướng tới hình thành “hub” logistics hàng không, nhất là phục vụ hàng thương mại điện tử từ Trung Quốc. Khi tuyến đường sắt Hà Nội - Quảng Ninh được hình thành trong tương lai, mạng lưới vận tải đa phương thức của thành phố sẽ tiếp tục được bổ sung một mắt xích quan trọng.
Định hướng này mở ra khả năng đón bắt những dòng hàng mới, nhất là hàng có giá trị cao, hàng thương mại điện tử và hàng công nghệ cần vận chuyển nhanh. Khi lợi thế đường bộ, đường biển, hàng không và đường sắt được tổ chức thành các phương án vận tải kết hợp, chất lượng dịch vụ sẽ được nâng lên, đồng thời mở rộng thị trường cho doanh nghiệp logistics.
Bên cạnh hạ tầng, thể chế, nâng năng lực doanh nghiệp cũng là khâu then chốt. Phần lớn doanh nghiệp logistics trên địa bàn có quy mô vừa và nhỏ, không ít đơn vị phát triển từ mô hình hộ gia đình. Vì vậy, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn dịch vụ và khả năng liên kết; từng bước chuyển từ cung cấp dịch vụ đơn lẻ sang các giải pháp logistics tích hợp. Đồng thời, cần chính sách đủ sức hấp dẫn để thu hút các tập đoàn logistics lớn trong nước và quốc tế. Sự hiện diện của những doanh nghiệp đầu ngành không chỉ bổ sung nguồn vốn, công nghệ và phương thức quản trị mà còn tạo sức lan tỏa, giúp doanh nghiệp địa phương tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng, hình thành các vệ tinh dịch vụ và nâng tỷ lệ giá trị gia tăng được tạo ra trên địa bàn.
Khu hợp tác kinh tế song phương Móng Cái - Đông Hưng theo mô hình “mỗi nước một khu” cũng được kỳ vọng mở thêm không gian cho logistics xuyên biên giới. Khu vực phía Việt Nam dự kiến quy mô khoảng 1.200ha, định hướng phát triển công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, chế biến, chế tạo và logistics. Nếu được triển khai đồng bộ, đây không chỉ là không gian sản xuất mà còn là mắt xích kết nối sản xuất - thương mại - logistics giữa hai bên biên giới.
Cùng với đó, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nhân lực đang trở thành những yêu cầu tất yếu. Số hóa thủ tục, kết nối dữ liệu, ứng dụng công nghệ trong quản lý vận tải, kho bãi, cảng biển và cửa khẩu sẽ góp phần giảm thời gian, chi phí, nâng tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Trong khi đó, logistics xanh sẽ ngày càng trở thành yêu cầu của các thị trường và đối tác quốc tế.
Nguồn nhân lực cũng cần được chuẩn bị tương xứng. Logistics hiện đại đòi hỏi đội ngũ không chỉ nắm nghiệp vụ vận tải, kho bãi, xuất nhập khẩu mà còn có năng lực công nghệ, ngoại ngữ, quản trị chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Đây là một trong những nội dung cần được các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, hiệp hội và doanh nghiệp phối hợp triển khai.
Từ thực tiễn phát triển, có thể thấy thành phố Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội chuyển logistics từ lợi thế tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực chất. Cảng biển tăng trưởng, Con Ong - Hòn Nét được định hướng trở thành hạt nhân logistics chiến lược, Vạn Ninh bổ sung năng lực hậu cần khu vực cửa khẩu, Móng Cái chuyển mạnh sang mô hình cửa khẩu thông minh, trong khi mạng lưới giao thông tiếp tục được hoàn thiện.
Cầu Bến Rừng kết nối giữa Quảng Ninh - Hải Phòng.
Vấn đề quan trọng trong giai đoạn tới là kết nối những lợi thế đó thành một chuỗi thống nhất. Từ cửa khẩu đến cảng biển, từ khu công nghiệp đến trung tâm phân phối, từ vận tải đến kho bãi, từ dữ liệu đến dịch vụ, mỗi mắt xích phải tạo thêm giá trị cho mắt xích tiếp theo. Khi đó, logistics sẽ không chỉ là “đường đưa hàng đi” mà trở thành một hệ sinh thái dịch vụ có khả năng giữ lại nhiều hơn giá trị của dòng hàng, tạo thêm việc làm, nguồn thu và động lực cho các ngành kinh tế khác.
Với vị trí địa kinh tế đặc biệt, hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện và khả năng kết nối 5 phương thức vận tải, thành phố Quảng Ninh có cơ sở để đặt mục tiêu cao hơn đối với logistics. Hoàn thiện thể chế để mở đường, đầu tư hạ tầng để tạo nền tảng, nâng sức cạnh tranh doanh nghiệp, phát huy công nghệ và tăng cường liên kết vùng sẽ là những yếu tố quyết định để logistics từng bước trở thành ngành dịch vụ tạo giá trị gia tăng cao, góp phần mở rộng không gian tăng trưởng và nâng vị thế của thành phố trong chuỗi cung ứng khu vực.
Thực hiện: HOÀI ANH
Trình bày: MẠNH HÀ