Bảo tồn đa dạng sinh học: Nền tảng cho phát triển bền vững

Những năm qua, Quảng Ninh luôn quan tâm tới bảo tồn đa dạng sinh học, lấy đa dạng sinh học là nền tảng an toàn sinh thái cho phát triển bền vững, bằng việc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đồng thời nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường.

Nỗ lực đáng ghi nhận

Xác định bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học là nhiệm vụ quan trọng mang tính chiến lược nhằm bảo đảm các mục tiêu phát triển lâu dài, Quảng Ninh đã chủ động, tích cực thực hiện các giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy bền vững giá trị các hệ sinh thái tiêu biểu.

Trong những năm gần đây, Quảng Ninh đã từng bước đưa bảo tồn đa dạng sinh học vào hệ thống quy hoạch, kế hoạch và chỉ đạo điều hành. Nội dung bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và quản lý đất ngập nước đã được tích hợp trong Quy hoạch thành phố Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; đồng thời được cụ thể hóa thông qua các kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học, Kế hoạch hành động về đất ngập nước, các chương trình bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Thành phố cũng quan tâm công tác điều tra, thống kê, kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu đã tạo nền tảng ban đầu cho quản lý đa dạng sinh học dựa trên bằng chứng.

bqn_bl_zalo-148166127165663.jpg
Một sinh cảnh rừng tươi đẹp tại Khu rừng bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng.

Ông Nguyễn Thanh Khương, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố, lý giải: Trong quản lý hiện đại, dữ liệu không chỉ để báo cáo, mà phải là cơ sở để ra quyết định về khu vực nào cần bảo vệ nghiêm ngặt, khu vực nào cần phục hồi, khu vực nào có nguy cơ chuyển đổi, khu vực nào cần ưu tiên giám sát.

Riêng trong khoảng 10 năm trở lại đây, Quảng Ninh chú trọng triển khai các nhiệm vụ liên quan đến các khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần, vịnh Hạ Long, Bái Tử Long; nghiên cứu, đề xuất thành lập khu bảo tồn đất ngập nước và hướng tới khu Ramsar đối với rừng ngập mặn Đồng Rui (xã Hải Lạng); đồng thời triển khai các khu vực bảo vệ nguồn lợi sá sùng, ngán và bãi đẻ thủy sản. Tiêu biểu tháng 5/2026, Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần được thành lập nhằm bảo vệ hệ sinh thái biển, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững, phù hợp với quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia và quy hoạch Quảng Ninh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050... Đây là hướng đi đúng, vì bảo tồn nguồn lợi thủy sản không thể tách khỏi bảo tồn sinh cảnh, bãi triều, rừng ngập mặn và chất lượng nước.

Để vùng đất ngập nước không bị suy giảm

Bên cạnh kết quả đạt được, đa dạng sinh học của Quảng Ninh vẫn đứng trước những mối lo. Đó là thiếu sự phối hợp liên ngành để thật sự vận hành theo chu trình quản lý hệ sinh thái. Đặc biệt nhiều vấn đề của đất ngập nước đang chưa được giải quyết thoả đáng. Ví như việc chưa hình thành đầy đủ hệ thống cảnh báo sớm về suy giảm sinh cảnh, ô nhiễm, xâm hại rừng ngập mặn, biến động bãi triều và nguồn lợi thủy sản. Sinh kế cộng đồng ven biển có chuyển biến nhưng chưa thật sự trở thành cấu phần trung tâm của bảo tồn.

Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Nguyễn Thanh Khương khẳng định: Nếu người dân chưa thấy lợi ích dài hạn từ bảo tồn, áp lực khai thác tự nhiên sẽ khó giảm bền vững. Chính vì vậy, với đất ngập nước, mất chức năng sinh thái đôi khi nguy hiểm không kém mất diện tích. Một bãi triều bị chia cắt dòng chảy, một rừng ngập mặn bị suy giảm tái sinh, một cửa sông bị ô nhiễm kéo dài đều có thể làm suy yếu toàn bộ chuỗi giá trị sinh thái - sinh kế.

Theo kết quả điều tra, khảo sát năm 2021, Quảng Ninh có khoảng 2.606km² đất ngập nước, trong đó, đất ngập nước ven biển, ven đảo chiếm tỷ trọng lớn nhất, cho thấy trọng tâm quản lý đất ngập nước của thành phố phải nằm ở không gian ven biển, bãi triều, cửa sông, rừng ngập mặn và vùng nước ven đảo, vốn là những khu vực rất nhạy cảm trước biến đổi khí hậu, đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản và phát triển hạ tầng.

bqn_tl_co-to-4.jpg
Một rạn san hô ở vùng biển Cô Tô. Ảnh Đặc khu Cô Tô

Từ góc nhìn khoa học, những vùng đất ngập nước chính là một hệ thống chức năng: Giữ nước, lọc nước, hấp thụ các-bon, giảm sóng, bảo vệ bờ biển, duy trì chuỗi thức ăn, cung cấp bãi đẻ - bãi giống - bãi kiếm ăn cho thủy sản, đồng thời tạo nền tảng sinh kế cho cộng đồng ven biển. Vì vậy, rừng ngập mặn, bãi triều, cửa sông, vũng vịnh, rạn san hô, thảm cỏ biển, hệ thống đảo và vùng nước ven bờ phải được coi là hạ tầng tự nhiên; phải được nuôi dưỡng, phục hồi và quản lý liên tục.

Đề xuất gần đây của Chi cục Kiểm lâm đưa ra là cần lựa chọn một số khu vực đất ngập nước trọng điểm để thí điểm quản lý dựa trên dữ liệu, trước hết là với rừng ngập mặn Đồng Rui. Theo đó, cần có bộ chỉ số theo dõi riêng cho khu vực này, gồm diện tích và chất lượng rừng ngập mặn, biến động bãi triều, chất lượng nước, nguồn lợi thủy sản, loài chim nước, mức độ tham gia của cộng đồng, sinh kế bền vững và hiệu quả truyền thông giáo dục.

Bảo tồn đa dạng sinh học không đối lập với phát triển, ngược lại, trở thành nền tảng của phát triển. Một vịnh Hạ Long xanh hơn, một Bái Tử Long nguyên sơ hơn, một Yên Tử bền vững hơn, một Đồng Rui được quản lý thông minh hơn, những rừng ngập mặn được phục hồi tốt hơn… đó không chỉ là kết quả bảo tồn, mà còn là năng lực cạnh tranh xanh, là an toàn sinh thái và phát triển bền vững.

Việt Hoa

Có thể bạn quan tâm