Quảng Ninh là địa phương có hệ sinh thái rừng, biển, đảo phong phú, với hơn 4.300 loài sinh vật, trong đó có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm và nguy cấp. Đây là nguồn tài nguyên sinh học có giá trị lớn về kinh tế, khoa học và môi trường. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang đi vào nhiều lĩnh vực, việc số hóa dữ liệu nguồn gen được xác định là hướng đi cần thiết, tạo nền tảng khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và khai thác bền vững các giá trị tự nhiên của tỉnh.
Giai đoạn 2021-2025, tỉnh triển khai 19 nhiệm vụ trọng điểm về bảo tồn nguồn gen, gồm các nhóm nguồn gen lâm nghiệp, dược liệu, vật nuôi và thủy sản. Các nhiệm vụ được triển khai nghiêm túc, đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đặc biệt, tỉnh có trên 40 nguồn gen bản địa như quế, sở, trà hoa vàng, ba kích tím, gà bản Đầm Hà, rươi nước lợ Đông Triều, ngán… đã và đang trở thành sản phẩm kinh tế có giá trị, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, qua rà soát, nhiều nguồn gen quý cần được tiếp tục bảo vệ, lưu giữ và phục hồi như: gà Tiên Yên, lợn Móng Cái, rươi Đông Triều, tùng La Hán, lúa chiêm đá, nấm chẹo… Đây không chỉ là tài nguyên sinh học đặc trưng của địa phương mà còn là cơ sở để phát triển sản phẩm hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân và bảo vệ cân bằng sinh thái.
Từ năm 2013 đến nay, Quảng Ninh đã ban hành nhiều đề án khung về bảo tồn nguồn gen. Đặc biệt, ngày 31/1/2026, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 412/QĐ-UBND về Đề án xây dựng “Khu trình diễn, giới thiệu, chuyển giao mô hình thực nghiệm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, lưu giữ nguồn gen tỉnh”. Mục tiêu hướng tới số hóa cơ sở dữ liệu và hoàn thiện hạ tầng nghiên cứu, thương mại hóa nguồn gen. Triển khai đề án, tháng 5/2026, Sở KH&CN đã làm việc với Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Trung tâm Tài nguyên thực vật tại Hà Nội. Chuyến làm việc nhằm học tập kinh nghiệm, trao đổi chuyên môn và tìm kiếm các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong lưu giữ, bảo tồn, phát huy giá trị nguồn gen. Đây là bước đi cần thiết để Quảng Ninh tiếp cận các mô hình quản lý dữ liệu hiện đại, đồng thời chuẩn hóa quy trình từ điều tra, thu thập mẫu, định danh loài đến cập nhật, chia sẻ dữ liệu trên nền tảng số.
Tại các khu vực vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long và rừng Quốc gia Yên Tử, việc triển khai đề án gắn trực tiếp với yêu cầu bảo vệ những giá trị thiên nhiên đặc hữu. Các nguồn gen như Cọ Hạ Long, Thiên tuế Hạ Long, Nhài Hạ Long, Bóng nước Hạ Long và nhiều loài thực vật đặc hữu khác sẽ được tổ chức lưu giữ tại chỗ. Cùng với đó, các nguồn gen nguy cấp, quý hiếm và có giá trị cao như Trầu tiên Yên Tử, Trai lý, Hải sâm đen, cá Song chấm đỏ, cá Nhụ bốn râu, các loài san hô… được điều tra, theo dõi và bảo tồn tại khu vực phân bố tự nhiên. Từ hoạt động thu thập mẫu vật, các dữ liệu ban đầu đang từng bước được hình thành. Đây là cơ sở để xây dựng bản đồ số hóa quần thể, phục vụ công tác giám sát lâu dài. Đặc biệt, việc kết hợp cơ sở dữ liệu nguồn gen với nghiên cứu mã vạch ADN sẽ giúp nâng cao độ chính xác trong định danh loài, hạn chế nhầm lẫn trong quá trình điều tra, đồng thời tạo nguồn dữ liệu khoa học phục vụ nghiên cứu, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái.
Bên cạnh đó, các mô hình bảo tồn nguồn gen trên địa bàn tỉnh cũng đang được rà soát, kế thừa và phát triển. Giai đoạn 2015-2025, tại Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng (Sở NN&MT) có 5 mô hình là kết quả của các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen tỉnh, gồm: cây Ba kích tím, Nấm chẹo, cây Gù hương, cây Re hương và cây Thông tre lá ngắn. Các mô hình bảo tồn này tiếp tục được đơn vị theo dõi sinh trưởng, thu thập và nhân giống bổ sung nguồn gen, hoàn thiện kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất đối với những nguồn gen có giá trị kinh tế, giá trị dược liệu. Cùng với việc duy trì các mô hình đã có, Trung tâm tiếp tục tăng cường bảo vệ tại chỗ các nguồn gen nguy cấp, quý hiếm, có giá trị cao như: Nam hoàng liên, Gụ lau, Cẩu tích, Cốt toái bổ, Hoàng tinh hoa trắng, Kim giao núi đá. Việc xây dựng phương án lưu giữ nguồn gen theo hướng nghiên cứu biện pháp kỹ thuật duy trì an toàn quần thể hiện có, theo dõi định kỳ tình hình sinh trưởng, phát triển và nghiên cứu kỹ thuật nhân giống sẽ giúp công tác bảo tồn đi vào thực chất hơn.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, HTX Hoàng Nam (thôn Quảng Nghĩa 3, xã Hải Ninh) được lựa chọn là cơ sở lưu giữ, bảo tồn nguồn gen 50 con lợn Móng Cái bản địa. Đây là giống vật nuôi gắn với địa phương, có giá trị trong sản xuất nông nghiệp và bảo tồn nguồn gen bản địa. Việc lưu giữ giống lợn Móng Cái không chỉ là bảo tồn một giống vật nuôi, mà còn là cơ sở để nghiên cứu, phục tráng, khai thác giá trị kinh tế và phát triển các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện địa phương.
Trong thực tế, bảo tồn nguồn gen không thể tách rời dữ liệu. Muốn bảo vệ một loài cây đặc hữu, một loài thủy sản quý hay một quần thể sinh vật có nguy cơ suy giảm, trước hết phải xác định rõ chúng phân bố ở đâu, quy mô quần thể ra sao, điều kiện sinh trưởng thế nào, mức độ suy giảm đến đâu và khả năng phục hồi như thế nào. Khi các thông tin này được số hóa, tích hợp bản đồ, hình ảnh, mẫu vật, dữ liệu sinh học và dữ liệu gen, công tác quản lý sẽ có cơ sở đầy đủ hơn để theo dõi biến động, cảnh báo nguy cơ và đưa ra giải pháp bảo tồn phù hợp.