Ngành Than và Quảng Ninh: Gắn bó từ lịch sử đến trách nhiệm phát triển

Trong suốt chặng đường phát triển của Vùng mỏ, dấu ấn ngành Than đã in đậm theo thời gian, hình thành một mối quan hệ gắn bó “máu thịt”, cùng vượt qua khó khăn, tạo dựng nguồn lực kinh tế, bồi đắp bản sắc con người Quảng Ninh. Cho đến hôm nay, trước yêu cầu đổi mới, mối quan hệ đặc biệt ấy tiếp tục được nối dài bằng trách nhiệm chung với mục tiêu phát triển bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

"Mối duyên" đặc biệt từ lịch sử

Quảng Ninh - vùng đất của Than! Nơi “… trong mỗi ca lao động của người thợ mỏ, của vùng than có khí thế Chi Lăng, Bạch Đằng lịch sử…”! Nơi “thợ mỏ vào ca cũng là chiến sĩ”! Trải qua nhiều thế hệ, những người thợ mỏ không chỉ tạo dựng một ngành công nghiệp chủ lực mà còn bền bỉ “dệt” nên văn hóa và cốt cách con người Quảng Ninh với truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” - sức mạnh nội sinh của Vùng mỏ anh hùng. Ngược lại, Quảng Ninh với truyền thống cách mạng, nguồn nhân lực và sự đồng hành của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố đã trở thành điểm tựa quan trọng để ngành Than vượt qua những bước thăng trầm, tiếp tục phát triển. Một mối quan hệ gắn bó "máu thịt" từ trong lịch sử!

Ngược dòng thời gian quay về thời điểm 10/1/1840, khi vua Minh Mạng chuẩn y việc khai thác than tại Quảng Ninh, mở ra dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngành Than Việt Nam. Bắt đầu từ những vùng khai thác ban đầu ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều, công nghiệp than từng bước phát triển, kéo theo sự hình thành và lớn mạnh của đội ngũ công nhân mỏ. Nhịp sống công nghiệp cũng từng bước định hình diện mạo vùng đất Đông Bắc.

images.jpg
Cuộc Tổng bãi công của thợ mỏ năm 1936 là cuộc đấu tranh quy mô lớn, thể hiện tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của giai cấp công nhân. Ảnh tư liệu

Trong điều kiện lao động cực kỳ khắc nghiệt, công việc nguy hiểm, đồng lương ít ỏi, ngày 12/11/1936, hơn 3 vạn thợ mỏ vùng than đã làm nên cuộc Tổng bãi công lịch sử, giành thắng lợi với tinh thần “Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng”. Từ ngọn lửa đấu tranh ấy, truyền thống của thợ mỏ trở thành biểu tượng của ý chí kiên cường, sức mạnh đoàn kết, góp phần hun đúc bản sắc Quảng Ninh.

Sau khi Vùng mỏ hoàn toàn giải phóng, công nhân nhanh chóng khôi phục sản xuất, đưa những dòng than trở lại phục vụ công cuộc kiến thiết Vùng mỏ và đất nước. Và rồi những năm sau đó, băng qua gian khổ, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều người con Quảng Ninh, những người thợ mỏ của Binh đoàn Than lên đường chiến đấu, trong khi hàng vạn công nhân bám trụ tại công trường, hầm lò, nhà xưởng, vừa thi đua sản xuất vừa chiến đấu khi có giặc.

Năm 1963, khi Quảng Ninh được thành lập, Vùng mỏ đã là một trung tâm công nghiệp than quan trọng của cả nước. Sau ngày đất nước thống nhất, hành trình dựng xây Vùng mỏ tiếp tục qua nhiều thời kỳ, có những giai đoạn sản xuất than đình trệ, thị trường khó khăn, việc làm và đời sống công nhân bị ảnh hưởng. Nhưng cùng với sự đồng hành của tỉnh Quảng Ninh, như mạch than bền bỉ trong lòng đất, tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” vẫn là điểm tựa để ngành Than vượt khó, phục hồi sản xuất.

bqn_tr_anh-7684.jpg
Tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm" của những người thợ mỏ đã hun đúc nên bản sắc văn hóa Quảng Ninh.

Qua những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, từ sản xuất đình trệ, than tồn kho đến những biến động của thị trường, ngành Than vẫn từng bước vượt qua thử thách. Mỗi lần phục hồi sản xuất là một lần truyền thống đoàn kết, kỷ luật, tinh thần cần cù, sáng tạo được khẳng định. Chính vì vậy, nói đến lịch sử Quảng Ninh là nhắc đến lịch sử ngành Than, với lớp lớp những thế hệ công nhân đã dành tuổi trẻ, sức lực và tâm huyết để dựng xây mảnh đất này.

Ông Vũ Nguyên Nhiệm, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, khẳng định: Lịch sử phát triển của Quảng Ninh luôn gắn liền với ngành Than. Từ mảnh đất đầy gian khó, ngành Than đã góp phần hình thành nên bản sắc, sức sống và vị thế của Vùng mỏ hôm nay. Đây là mối quan hệ vừa là kinh tế, vừa là nghĩa tình, mang đậm giá trị lịch sử và nhân văn.

Quảng Ninh là "cái nôi" của ngành công nghiệp than Việt Nam, còn ngành Than chính là lực lượng đã góp phần làm nên diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng đất mỏ hôm nay. Mối quan hệ giữa Quảng Ninh và ngành Than không chỉ là mối quan hệ giữa một ngành kinh tế nhà nước với địa bàn hành chính đứng chân, mà còn là sự gắn bó máu thịt, khăng khít.

Những dòng than góp sức dựng xây quê hương

Ngành Than từ lâu đã là trụ cột kinh tế quan trọng trong cơ cấu GRDP và nguồn thu ngân sách của Quảng Ninh. Trải qua những năm tháng lịch sử, trong quá trình đổi mới và phát triển, ngành Than, với nòng cốt là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế Quảng Ninh và nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Với khoảng 90% trữ lượng than cả nước tập trung trên địa bàn, Quảng Ninh là địa bàn chiến lược của ngành công nghiệp khai khoáng. Hoạt động sản xuất, tiêu thụ than tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, nguồn thu ngân sách, việc làm và đời sống của đông đảo người dân.

Giai đoạn 2021-2025, tổng sản lượng than sạch của ngành Than ước đạt 219 triệu tấn, tăng 12,7% so với giai đoạn 2016-2020. Ngành khai khoáng duy trì mức tăng trưởng bình quân ước 4,47%/năm, chiếm khoảng 19-20% GRDP và đóng góp khoảng 40% thu ngân sách nội địa của Quảng Ninh. Riêng trong 9 tháng đầu năm 2026, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sản xuất 27,7 triệu tấn than, tiêu thụ gần 38,76 triệu tấn; doanh thu đạt 139.659 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước hơn 20.513 tỷ đồng, trong đó nộp NSNN trên địa bàn Quảng Ninh dự kiến 14.095 tỷ đồng. Rõ ràng, dù cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, nhưng ngành Than vẫn là một trong những trụ cột quan trọng, tạo nguồn lực cho Quảng Ninh thực hiện các mục tiêu phát triển.

bqn_tr_dji.jpg
Ngành Than đóng góp khoảng 40% thu ngân sách nội địa của Quảng Ninh trong giai đoạn 2021-2025. Ảnh: Phạm Tăng

Song đóng góp của ngành Than với Quảng Ninh không chỉ nằm ở những con số ngân sách. Đó còn là hàng chục nghìn lao động trực tiếp và gián tiếp đang làm việc trong chuỗi sản xuất, chế biến, vận tải, tiêu thụ than và các dịch vụ liên quan trên đất Quảng Ninh. Phía sau mỗi ca sản xuất là công sức của người thợ, là bữa cơm gia đình, là những đứa trẻ đến trường và cuộc sống được vun đắp từ đồng lương ổn định mà ngành Than mang lại. Năm 2025, thu nhập bình quân của người lao động của TKV đạt trên 19,5 triệu đồng/người/tháng; nhiều thợ lò có thu nhập 500-700 triệu đồng/năm.

Ở nhiều địa bàn của Quảng Ninh, dấu ấn ngành Than hiện diện trong nhịp sống thường ngày một cách rõ nét. Đó là nhịp sản xuất, kinh doanh hằng ngày hay những phố mỏ, những dịch vụ... Sự ổn định của ngành góp phần giữ nhịp sống ổn định cho nhiều gia đình, đảm bảo an sinh xã hội và tạo sức lan tỏa đến các lĩnh vực kinh tế khác.

Cùng với tạo việc làm và nguồn thu, ngành Than còn dành nguồn lực sẻ chia với cộng đồng. Từ năm 2016 đến nay, Tập đoàn đã dành trên 455 tỷ đồng cho công tác an sinh xã hội tại Quảng Ninh, hỗ trợ đầu tư hạ tầng, cải thiện điều kiện sinh hoạt và nâng cao đời sống nhân dân. Những mái ấm cho người khó khăn, những tuyến đường rộng rãi, những chương trình hỗ trợ địa phương… do TKV thực hiện đã thể hiện một phần trách nhiệm xã hội của ngành đối với vùng đất đã gắn bó qua nhiều thế hệ.

Ở chiều ngược lại, Quảng Ninh luôn xác định ngành Than là một ngành kinh tế chiến lược, cần được đồng hành và tạo điều kiện phát triển. Việc phối hợp trong quy hoạch, đầu tư, giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn về tài nguyên và thủ tục có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng duy trì sản xuất, bảo đảm nguồn cung năng lượng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị trong ngành.

Đồng hành để phát triển bền vững

Thời gian qua, Quảng Ninh đang đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, phát triển dịch vụ, du lịch, kinh tế biển và các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Điều này đòi hỏi việc phát triển của ngành Than phải được đặt trong mối quan hệ hài hòa với các ngành kinh tế khác, với bảo vệ môi trường và chất lượng sống của cộng đồng.

Ông Vũ Anh Tuấn, Tổng Giám đốc TKV, chia sẻ: Đơn vị luôn coi Quảng Ninh là mái nhà. Là địa phương có vai trò đặc biệt trong sự phát triển của Tập đoàn, vì thế, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của TKV đều gắn với mục tiêu phát triển bền vững của Quảng Ninh. TKV và Quảng Ninh là đối tác cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng hướng đến mục tiêu xanh hơn, sạch hơn, hiệu quả hơn.

bqn_tr_anh.jpg
Lò chợ cơ giới hóa tại Công ty Than Nam Mẫu. Ảnh: Quốc Khương

Xác định rõ điều đó, TKV đã chú trọng ứng dụng cơ giới hóa, tin học hóa, tự động hóa trong quản lý và sản xuất, vừa nâng cao năng suất, vừa cải thiện điều kiện làm việc, giảm sức lao động trực tiếp và tăng cường an toàn trong những năm qua. Tập đoàn cũng xác định chuyển đổi xanh là một trong những trụ cột phát triển, đẩy mạnh đầu tư các công trình môi trường, cải thiện cảnh quan mặt bằng sản xuất. Hằng năm TKV chi gần 1.000 tỷ đồng cho công tác bảo vệ môi trường và tăng cường quản lý tài nguyên than.

Cùng với đó, TKV cũng quan tâm phục hồi môi trường sau khai thác. Đây không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật mà còn là trách nhiệm của ngành đối với cảnh quan, hệ sinh thái và chất lượng sống của người dân Quảng Ninh.

Về phía thành phố, Quảng Ninh tạo điều kiện để ngành Than phát triển đồng thời tăng cường quản lý nhà nước, giám sát việc chấp hành quy định về tài nguyên và môi trường. Thành phố tập trung tháo gỡ khó khăn về quy hoạch, tài nguyên, đầu tư, mà còn ưu tiên bố trí quỹ đất phù hợp để triển khai các dự án nhà ở xã hội cho thợ mỏ, hướng tới ổn định cuộc sống lâu dài và củng cố nguồn nhân lực cho ngành.

bqn_tr_2538197-1a-05340706.jpg
Ngành Than định hướng chuyển đổi toàn diện theo hướng “xanh - số - hiệu quả - bền vững”. Ảnh: Phạm Tăng

Bước vào giai đoạn mới, Quảng Ninh đã trở thành thành phố với vị thế và không gian phát triển mới. Mục tiêu của thành phố là tiếp tục nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển hài hòa giữa công nghiệp, dịch vụ, du lịch và kinh tế biển, hướng tới phát triển thành phố giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Trong không gian phát triển ấy, ngành Than tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm, nguồn thu và bảo đảm an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường.

Giai đoạn 2025-2030, ngành Than đã định hướng chuyển đổi toàn diện theo hướng “xanh - số - hiệu quả - bền vững”, tập trung vào chuyển đổi xanh, phát triển sâu khoáng sản chiến lược, chuyển đổi số và tái cấu trúc tổ chức; bảo đảm hài hòa giữa nhu cầu phát triển của ngành Than với định hướng không gian kinh tế - xã hội của Quảng Ninh.

Đồng chí Quản Minh Cường, Bí thư Thành ủy Quảng Ninh khẳng định, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Quảng Ninh luôn nhất quán quan điểm “Quảng Ninh và ngành Than là một”. Sự phát triển của ngành Than không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội của Quảng Ninh mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Quảng Ninh luôn xác định đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để TKV phát triển ổn định, bền vững, lâu dài.

Với mối quan hệ đặc biệt, hôm nay, trên hành trình bước vào kỷ nguyên mới, sự “gặp gỡ” giữa những yêu cầu phát triển đòi hỏi Quảng Ninh và ngành Than tiếp tục gắn bó, viết tiếp truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” bằng trách nhiệm, làm mới phương thức đồng hành phù hợp với yêu cầu mới, biến sức mạnh của lịch sử thành động lực dựng xây tương lai.

Khánh Đan

Có thể bạn quan tâm