Đầu tư nguồn lực cho khu vực miền núi, biên giới, hải đảo

Là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cả nước, trong hành trình phát triển, tỉnh Quảng Ninh đã lồng ghép hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với xây dựng nông thôn mới (NTM) và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Sự quan tâm, đầu tư của tỉnh đã tạo ra chuẩn sống mới cho người dân ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Mở rộng cơ hội phát triển cho mọi khu vực

bqn_tr_587695598-1414238604038563-9125689322046746482-n.jpg
Người dân xã Điền Xá livestream bán hàng tại Chợ phiên văn hóa vùng cao Hà Lâu.

Tại thôn Pắc Phai, xã Điền Xá, từ cuối năm 2025 đến nay, chị Lý Thị Sen cũng như nhiều người dân trong thôn đã quen với việc livestream giới thiệu sản phẩm, nhận đơn hàng trực tuyến và thanh toán qua mã QR. Trong khi đó, chỉ vài năm trước, việc sử dụng điện thoại thông minh để kinh doanh vẫn còn khá xa lạ với nhiều người dân nơi đây. Chị Lý Thị Sen phấn khởi cho biết: Trước đây đường sá đi lại khó khăn, bà con chủ yếu trồng trọt, chăn nuôi, tự cung tự cấp, hoặc nếu có bán cho thương lái thì giá cũng thấp. Giờ thì đường vào thôn đã được nâng cấp, đi lại vô cùng dễ dàng, lại được xã tập huấn về kỹ năng số nên người dân đã mạnh dạn tiếp cận công nghệ, tự tin bán hàng trực tuyến. Sản phẩm nông sản địa phương được nhiều khách hàng biết đến hơn và lượng tiêu thụ cũng tăng lên đáng kể.

Những phiên livestream giữa núi rừng, những đơn hàng đi khắp cả nước chỉ sau vài cú chạm màn hình đang thu hẹp khoảng cách địa lý, đưa nông sản vùng cao Điền Xá gần hơn với nền kinh tế số. Ông Lương Việt Hưng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Điền Xá, chia sẻ: Chuyển đổi số không chỉ giúp mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn góp phần thay đổi nhận thức của người dân về xây dựng thương hiệu sản phẩm. Tại chợ phiên Hà Lâu, mô hình bán hàng số cũng đang được xã Điền Xá duy trì khá hiệu quả. Nhiều sản vật nổi tiếng như gà Tiên Yên, nấm chẹo, cá suối, ốc khe, rau rừng, măng khô, bánh cốc mò, bánh lá ngải... đã đến được với người tiêu dùng ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Thu nhập và đời sống của người dân cũng nhờ thế mà đang từng bước thay đổi.

Không chỉ người dân thôn Điền Xá, thời gian gần đây, hoạt động kinh doanh trực tuyến đang ngày càng hiện diện rõ nét tại nhiều vùng quê thuần nông, miền núi, hải đảo trong tỉnh như Quảng La, Cô Tô, Phương Nam, Hoành Bồ… Đó thực sự là một cuộc chuyển dịch tư duy ngoạn mục đang diễn ra giữa nông thôn, nơi những người nông dân, ngư dân vốn chỉ quen tay cày, tay cuốc, tay kéo lưới, thì nay đang mạnh dạn bán hàng trên không gian mạng.

3403a3f50a8343b6a1a5a42fd878dd51.jpg
Du khách trải nghiệm dịch vụ thuê trang phục, thưởng thức ẩm thực bản địa tại mô hình du lịch của chị Sần Móc Lộc (xã Hải Sơn).

Ở nhiều địa bàn, sự thay đổi cũng diễn ra theo cách tương tự. Tại xã biên giới Hải Sơn, mỗi độ sim chín, đồi Mã Thầu Sơn như được phủ thảm tím. Nhận thấy tiềm năng phát triển du lịch của địa phương, từ năm 2022 đến nay, gia đình chị Sần Móc Lộc đã gây dựng 4ha khu đồi hoa sim và hơn 100 bộ trang phục Sán Chỉ để cho thuê, dựng chòi nghỉ, tổ chức bữa ăn dân dã với cá suối, ngan đen, xôi ba màu, rượu sim. Với giá vé chỉ 10.000 đồng, khách được tự do chụp ảnh, hái sim, bắt cá suối... Vào ngày cao điểm, gia đình chị phục vụ 60 - 70 khách. Chị cũng vận động thêm các hộ trong xã cùng tham gia mô hình “Một ngày làm nông dân” trồng cây ăn quả, nuôi cá, phục vụ du khách. Thu nhập từ du lịch cao gấp nhiều lần so với canh tác keo, sắn truyền thống.

Chia sẻ về niềm vui từ thành công của mô hình, chị Sần Móc Lộc, cho biết: Ngày trước, gia đình chủ yếu làm nương, làm rẫy, quanh năm chỉ đủ ăn. Những năm gần đây, Lễ hội Hoa sim và Ngày hội Văn hóa, thể thao, du lịch các dân tộc Hải Sơn được địa phương tổ chức quy mô, thu hút lượng lớn khách du lịch đến với vùng biên giới này. Giờ tôi làm homestay, đón khách du lịch, giới thiệu văn hóa Sán Chỉ, như hát Soóng Cọ, các món ăn truyền thống. Thu nhập tốt hơn, con cái lại được tỉnh hỗ trợ tất cả mọi thứ, từ học phí đến ăn uống, sách giáo khoa… nên cuộc sống của chúng tôi cũng ngày một đầy đủ. Nhiều hộ trong xã giờ nhà cửa rất to đẹp, mua sắm ô tô, xe máy...

bqn_tr_1787125526276-272023510162780068-623744950442968517-d0de6599e26ca1e7f5d4735a8922acf5.jpg
Niềm vui của người dân xã Điền Xá trên những con đường mới.

Không khó để nhận ra rằng, từ những con đường được mở rộng, trường học được đầu tư, điện lưới và nước sinh hoạt được kéo đến những khu dân cư xa xôi, sóng di động và internet phủ tới các thôn, bản… đang từng bước làm thay đổi điều kiện tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân. Đồng thời, còn mở rộng không gian phát triển, tạo cơ hội để người dân tự vươn lên, làm giàu ngay trên chính quê hương của mình. Quan trọng hơn là một thế hệ nông dân mới đang dần hình thành ở nhiều địa phương trong toàn tỉnh, người dân không chỉ biết trồng cây, nuôi trồng theo công nghệ cao, kết nối với thị trường mà còn biết làm du lịch, giữ gìn văn hóa.

Dịch vụ thiết yếu đến với mọi người dân

bqn_tr_1787125609753-272023510162780068-623744950442968517-2e3820c911371c6e9555b2d5af09dd0d.jpg
Học sinh Trường TH&THCS Sơn Dương phấn khởi khi được uống sữa tại trường mỗi ngày.

Sự thay đổi của người dân không đến từ một chính sách đơn lẻ mà là kết quả của quá trình tỉnh kiên trì ưu tiên nguồn lực cho khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo. Từ năm 2017, tỉnh đã triển khai thực hiện Đề án 196 (phê duyệt theo Quyết định số 196/QĐ-UBND ngày 17/1/2017) về nhiệm vụ và giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn và hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn 2016-2020. Tỉnh đã bố trí hơn 1.776 tỷ đồng vốn ngân sách cùng hơn 397 tỷ đồng vốn tín dụng để phát triển hạ tầng, sinh kế và giảm nghèo bền vững cho các khu vực này. Đến giai đoạn 2021-2025 quan điểm đầu tư tiếp tục được nâng lên thông qua Nghị quyết số 06-NQ/TU (ngày 17/5/2021) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Cùng với việc lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, Quảng Ninh dành khoảng 4.000 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh và các nguồn lực huy động để đầu tư, hỗ trợ phát triển khu vực này.

Quan trọng hơn, Nghị quyết 06-NQ/TU không tiếp cận vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo đơn thuần theo hướng trợ cấp. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ hỗ trợ sang phát triển bền vững, lấy hạ tầng, nguồn nhân lực và sinh kế làm nền tảng, lấy người dân làm chủ thể.

bqn_tr_2523319-cong-trinh-nang-cap-duong-truc-chinh-khu-trung-tam-xa-doan-tu-cong-chao-thon-tan-dong-den-san-van-dong-xa-13005427.jpg
Công trình nâng cấp đường trục chính khu trung tâm xã Quảng Tân hoàn thành, đưa vào sử dụng đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Để hiện thực hóa cách tiếp cận đó, trong 5 năm qua, toàn tỉnh huy động trên 120.203 tỷ đồng thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU và các chương trình mục tiêu quốc gia. Đáng chú ý, ngân sách nhà nước được sử dụng như “vốn mồi”, dẫn dắt các nguồn lực khác. Theo báo cáo, bình quân một đồng vốn ngân sách đã huy động, vận dụng được trên 4,6 đồng vốn ngoài ngân sách tham gia đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo. Riêng nguồn vốn đầu tư công, ngân sách tỉnh bố trí trực tiếp 785 công trình, dự án; trong đó, có 301 công trình giao thông, 125 công trình thủy lợi, 56 công trình nước sinh hoạt, 64 công trình giáo dục, 138 công trình văn hóa cùng các công trình điện, y tế và chỉnh trang khu dân cư. Đến năm 2025, 100% số xã vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo của tỉnh đạt chuẩn NTM, trong đó 50,8% số xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 20,63% đạt chuẩn NTM kiểu mẫu.

Khi đường giao thông được đầu tư, khoảng cách đến trung tâm được rút ngắn; khi trường học, điện, nước, viễn thông được hoàn thiện, điều kiện học tập, sản xuất và tiếp cận dịch vụ của người dân cũng thay đổi theo. Một trong những thay đổi rõ nhất là khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

bqn_tr_778852809-1415453523765458-1653484514162541190-n.jpg
Trường Phổ thông nội trú TH&THCS Bình Liêu sẵn sàng đón học sinh vào năm học 2026-2027.

Trong giáo dục, 100% đơn vị cấp xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập tiểu học mức độ 3, phổ cập THCS mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2. Tỷ lệ trẻ em DTTS nhập học đúng độ tuổi và hoàn thành chương trình tiểu học năm học 2024-2025 đạt 100%.

Trong y tế, 100% xã duy trì đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; tỷ lệ phụ nữ DTTS được khám thai từ 3 lần trở lên đạt 97,85%, tỷ lệ ca sinh được cán bộ y tế đã qua đào tạo đỡ đẻ đạt 99,74%. Đến hết năm 2025, tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 95,75%, trên 97% dân số được quản lý bằng hồ sơ sức khỏe điện tử.

2511207-wtm-04e6827d92dd26cab4e76dbcfdcff9cc.jpg
Bác sĩ Bệnh viện Bãi Cháy khám chuyên khoa, tư vấn sức khỏe cho đồng bào DTTS xã Kỳ Thượng. Ảnh: Minh Đức

Đối với hạ tầng số, 100% thôn, bản được phủ sóng điện thoại di động và internet băng rộng cáp quang; toàn tỉnh có 5.213 trạm BTS, phủ sóng 4G. Tỷ lệ hộ gia đình có kết nối băng rộng cáp quang FTTH đạt 97,74%. Điều này có ý nghĩa đặc biệt với những địa bàn như: Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà hay các xã đảo...

Những số liệu trên cho thấy, khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân vùng sâu, vùng xa đã tiến gần hơn tới mặt bằng chung toàn tỉnh.

Vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo đang từng bước hòa mình vào sự phát triển chung của toàn tỉnh. Bình Liêu có thể phát triển du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc và kinh tế biên mậu; Ba Chẽ phát huy lợi thế rừng và du lịch sinh thái; Tiên Yên kết nối phát triển nông nghiệp, dịch vụ và du lịch; Cô Tô khai thác lợi thế biển đảo...

Đặt mục tiêu cao hơn là để người dân ở những nơi xa trung tâm có thêm cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, làm việc, sản xuất, kinh doanh và tiếp cận các dịch vụ của một thành phố trực thuộc Trung ương, giai đoạn 2026-2030, tỉnh tiếp tục xác định ưu tiên đầu tư giao thông, hạ tầng số, điện, nước, giáo dục, y tế, văn hóa và hạ tầng phục vụ sản xuất; đồng thời tăng cường kết nối vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo với các trung tâm động lực phát triển của tỉnh.

Hiện Sở NN&MT phối hợp với các sở, ngành, địa phương tham mưu UBND tỉnh xem xét, cho chủ trương xây dựng “Nghị quyết quy định một số chính sách đặc thù phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc, miền núi, biên giới, hải đảo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026 - 2030”, tập trung tại 22 xã thuộc địa bàn nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng DTTS của tỉnh. Tổng kinh phí khoảng 9.000 tỷ đồng. Từ đó nhằm bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ giữa phát triển sản xuất nông nghiệp với phát triển nông thôn, gắn hỗ trợ sản xuất với phát triển hạ tầng, sinh kế, tổ chức cộng đồng và nâng cao chất lượng đời sống người dân; đồng thời, bảo đảm quá trình hình thành thành phố Quảng Ninh không làm gián đoạn chính sách dành cho các địa bàn này.

Có thể bạn quan tâm