Hơn hai thập niên doanh nghiệp tham gia đầu tư, khai thác tại Yên Tử đã góp phần đưa một điểm đến chủ yếu phục vụ hành hương, chiêm bái từng bước hình thành hệ thống sản phẩm, dịch vụ dựa trên văn hóa, cảnh quan và bản sắc, tạo thêm những giá trị kinh tế từ di sản. Câu chuyện Yên Tử cho thấy khi nguồn lực xã hội được khơi thông, khu vực kinh tế tư nhân có thể tham gia sâu hơn vào quá trình phát huy giá trị di sản. Đây cũng là thực tiễn sinh động để nhìn rõ hơn tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó yêu cầu huy động nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với phát triển bền vững. Song, từ Yên Tử cũng đặt ra một yêu cầu xuyên suốt: phát triển kinh tế từ di sản phải đi cùng gìn giữ những giá trị cốt lõi làm nên sức sống của di sản.
Hơn hai thập niên trước, Yên Tử vẫn là một điểm đến có hạ tầng và dịch vụ du lịch còn đơn sơ. Theo ông Bùi Đình Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Phát triển Tùng Lâm, những năm 2000 trở về trước, mỗi năm Yên Tử chỉ đón khoảng 50.000-70.000 lượt khách. Từ khi nguồn lực xã hội, trong đó có nguồn lực doanh nghiệp, được huy động vào đầu tư hạ tầng và dịch vụ, diện mạo Yên Tử từng bước thay đổi. Năm 2000, dự án cáp treo lên Hoa Yên đánh dấu sự tham gia của doanh nghiệp vào phát triển dịch vụ tại Yên Tử. Sau đó là các tuyến cáp treo, bến xe, Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử cùng hệ thống dịch vụ lưu trú, nghỉ dưỡng và trải nghiệm. Điều đáng nói là quá trình ấy không chỉ làm tăng năng lực phục vụ du khách, mà còn thay đổi cách tiếp cận về sản phẩm. Yên Tử không còn chỉ được nhìn như một nơi để hành hương rồi trở về, mà từng bước được tổ chức thành một không gian trải nghiệm văn hóa, tâm linh, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, khám phá thiên nhiên và tìm hiểu những giá trị của Thiền phái Trúc Lâm.
Từ thực tiễn đó có thể thấy, di sản không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ mà còn có thể trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển nếu được nhận diện đúng giá trị và khai thác phù hợp. Đây cũng là hướng Quảng Ninh đang từng bước định hình trong xây dựng Đề án phát triển kinh tế di sản, sản phẩm du lịch đêm và công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo định hướng của Đề án, di sản là lõi, công nghiệp văn hóa là công cụ chuyển hóa, du lịch là kênh lan tỏa, kinh tế ban đêm là không gian mở rộng tiêu dùng và gia tăng trải nghiệm và Yên Tử là một trong những nơi thể hiện rõ quá trình chuyển hóa ấy.
Tháng 7/2025, Quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới. Danh hiệu mới mở thêm cơ hội để Yên Tử thu hút du khách, mở rộng hợp tác, phát triển sản phẩm văn hóa, du lịch và dịch vụ. Nhưng đi cùng cơ hội là yêu cầu cao hơn về quản lý lượng khách, bảo vệ cảnh quan, gìn giữ không gian văn hóa, đồng thời bảo đảm sự tham gia của cộng đồng địa phương và đánh giá tác động của các dự án trong khu di sản.
Năm 2026, Quảng Ninh xác định là “Năm du lịch Yên Tử”, đặt mục tiêu thu hút ít nhất 1 triệu lượt khách. Thực tế, chỉ trong 5 tháng đầu năm, Yên Tử đã đón hơn 1 triệu lượt khách, tăng 123% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết tháng 9, tổng lượng khách đến Yên Tử đã đạt 1.236.834 lượt, tăng 138% so với cùng kỳ năm 2025, khi Yên Tử đón 519.151 lượt khách. Những con số này cho thấy dư địa lớn để tiếp tục phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch và kinh tế địa phương.
Chị Dương Quỳnh An, du khách đến từ Hà Nội, chia sẻ:
Tôi đã nhiều lần đến Yên Tử và thấy nơi đây thay đổi rất rõ. Từ một điểm đến chủ yếu để hành hương, Yên Tử ngày càng có thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm để du khách ở lại lâu hơn. Nhưng điều quan trọng là những thay đổi ấy không làm mất đi vẻ tĩnh tại, linh thiêng vốn có. Với tôi, một điểm đến di sản hấp dẫn không phải là có thật nhiều công trình mới, mà là biết làm cho những giá trị vốn có trở nên gần gũi, hấp dẫn hơn với du khách.
Cùng với việc mở rộng các sản phẩm tham quan, nghỉ dưỡng, địa phương đang hướng tới đa dạng hóa các sản phẩm thể thao, sinh thái, cộng đồng, từng bước hình thành điểm đến bốn mùa. Những con số tăng trưởng cho thấy sức hút của Yên Tử đang được mở rộng, nhưng đồng thời cũng đặt ra một câu hỏi lớn hơn, đó là làm thế nào để tăng giá trị kinh tế mà không gia tăng sức ép lên chính những giá trị làm nên sức hấp dẫn của di sản?
Thực tế đầu tư tại Yên Tử cho thấy phát triển du lịch không nhất thiết phải đi cùng với việc thay đổi mạnh mẽ cảnh quan. Nhiều công trình được nghiên cứu về vị trí, quy mô, kiến trúc và vật liệu theo hướng hài hòa với địa hình, cảnh quan và không gian văn hóa. Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử là một ví dụ, khi kiến trúc được lấy cảm hứng từ những giá trị truyền thống, tạo sự gắn kết với không gian văn hóa thay vì hình thành một khu chức năng tách rời khỏi di sản.
Kinh nghiệm đó cho thấy, đầu tư vào di sản không đơn thuần là đầu tư thêm công trình để tăng khả năng đón khách. Quan trọng hơn là biết khai thác những giá trị vốn có để tạo ra sản phẩm có bản sắc. Khi cảnh quan được giữ gìn, không gian văn hóa được tôn trọng và trải nghiệm của du khách gắn với chính giá trị di sản, phát triển du lịch cũng đồng thời góp phần gia tăng giá trị của điểm đến. Đó là kinh nghiệm thực tiễn đáng chú ý khi Quảng Ninh chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên du lịch sang tổ chức một hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm dựa trên di sản.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời đặt yêu cầu tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch để doanh nghiệp phát huy nguồn lực, năng lực sáng tạo và mở rộng hoạt động.
Thực tiễn hơn hai thập niên đầu tư tại Yên Tử cho thấy một phần sinh động của quá trình đó. Từ dự án cáp treo đầu tiên năm 2000, nguồn lực doanh nghiệp từng bước được huy động để hình thành hệ thống hạ tầng, dịch vụ và sản phẩm du lịch, góp phần đưa Yên Tử từ một điểm đến chủ yếu phục vụ hành hương, chiêm bái trở thành không gian văn hóa, du lịch có sức hấp dẫn lớn.
Điều đáng nói là giá trị của nguồn lực tư nhân tại Yên Tử không nằm ở quy mô đầu tư đơn thuần, mà ở khả năng biến những giá trị sẵn có của di sản thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế mới. Đây cũng là cách nhìn phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68: khơi thông nguồn lực xã hội, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy năng lực tổ chức, đầu tư, công nghệ và sáng tạo, đồng thời bảo đảm hoạt động đầu tư nằm trong một không gian phát triển rõ ràng, ổn định. Với Yên Tử, yêu cầu này có một giới hạn rất cụ thể, phát triển phải dựa trên di sản nhưng không được làm tổn hại đến di sản. Cảnh quan, không gian thiêng, di tích và những giá trị văn hóa tạo nên bản sắc Yên Tử không thể được xem như nguồn lực có thể khai thác vô hạn. Vì vậy, câu chuyện Yên Tử đặt ra một vấn đề rộng hơn đối với việc thực hiện Nghị quyết 68 là làm thế nào để nguồn lực tư nhân được phát huy đầy đủ, nhưng sự phát triển vẫn nằm trong giới hạn mà giá trị gốc của di sản cho phép.
Du khách chiêm bái tại tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Tại hội nghị khoa học về định hướng phát triển đô thị di sản Yên Tử tháng 3/2026, các chuyên gia đều nhấn mạnh yêu cầu đặt bảo tồn giá trị gốc trong quá trình phát triển. PGS.TS Tống Trung Tín cho rằng có thể xây dựng các công trình phục vụ phát triển, nhưng phải tránh khu vực trung tâm cốt lõi, bảo vệ không gian thiêng, nguyên gốc, nguyên trạng. GS.TS Nguyễn Quang Ngọc lưu ý quy hoạch phải lấy di sản làm “hồn cốt” của không gian phát triển, trong khi GS.TS Nguyễn Văn Kim nhấn mạnh phát triển đô thị di sản không đồng nghĩa với đô thị hóa dày đặc, mà phải tạo không gian phù hợp để bảo vệ và phát huy giá trị Yên Tử.
Những ý kiến đó cho thấy bài toán đối với nguồn lực tư nhân tại Yên Tử không phải là “có cho đầu tư hay không”, mà là đầu tư ở đâu, đầu tư thế nào và tạo ra giá trị gì trên nền tảng di sản. Từ góc độ quản lý, Quảng Ninh đang từng bước hoàn thiện những điều kiện để trả lời câu hỏi đó. Cùng với việc xây dựng Đề án phát triển kinh tế di sản, thành phố Quảng Ninh đã ban hành quy định về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong bảo tồn, tu bổ, khai thác, phát huy di sản. Đây là điều kiện quan trọng để hài hòa hai yêu cầu tưởng như đối lập nhưng thực chất phải song hành, đó là tạo không gian cho doanh nghiệp đầu tư và đặt ra giới hạn để bảo vệ di sản.
Chùa Đồng - Đích đến của du khách khi đặt chân đến Yên Tử.
Doanh nghiệp muốn đầu tư lâu dài cần quy hoạch ổn định, môi trường pháp lý rõ ràng và cơ chế thực thi minh bạch. Ngược lại, Nhà nước phải xác lập được những nguyên tắc đủ cụ thể để hoạt động đầu tư không làm tổn hại đến các giá trị không thể thay thế của di sản.
Ở tầm rộng hơn, Quảng Ninh đang xây dựng Đề án phát triển kinh tế di sản, sản phẩm du lịch đêm và công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, với mục tiêu đưa các lĩnh vực này trở thành những động lực tăng trưởng mới. Cách tiếp cận “di sản là lõi, công nghiệp văn hóa là công cụ chuyển hóa, du lịch là kênh lan tỏa” cho thấy tư duy phát triển đang chuyển từ khai thác đơn thuần sang tạo lập chuỗi giá trị mới trên nền tảng văn hóa, khi đó, giá trị của di sản không chỉ được tính bằng số lượt khách.
Làng Nương được thiết kế xây dựng mang kiến trúc thời nhà Trần, mang “hồn cốt” một ngôi làng cổ dưới chân núi Yên Tử.
Một di sản có thể tạo ra nhiều tầng giá trị thông qua lưu trú, ẩm thực, sản phẩm thủ công, trải nghiệm văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu, giáo dục và các ngành công nghiệp sáng tạo. Càng tạo được nhiều giá trị trên mỗi lượt khách, kéo dài thời gian lưu trú và nâng chất lượng trải nghiệm, càng có cơ hội tăng hiệu quả kinh tế mà không nhất thiết phải mở rộng khai thác vào vùng lõi. Thực tế tại Yên Tử đang cho thấy hướng mở đó. Lượng khách tăng nhanh tạo dư địa để phát triển các sản phẩm mới, nhưng đồng thời đòi hỏi kiểm soát tốt sức chứa, chất lượng dịch vụ, môi trường và không gian văn hóa. Bài toán đặt ra không còn là đón được bao nhiêu khách, mà là mỗi du khách để lại bao nhiêu giá trị cho điểm đến và cộng đồng, trong khi di sản vẫn được bảo vệ.
Cách nhìn này cũng mở ra hướng tham gia mới cho doanh nghiệp. Thay vì chỉ đầu tư vào một công trình hay một điểm đến riêng lẻ, doanh nghiệp có thể tham gia tạo dựng chuỗi sản phẩm liên kết giữa di sản, văn hóa, thiên nhiên và dịch vụ. Khi đó, nguồn lực tư nhân không chỉ tạo doanh thu cho doanh nghiệp mà còn mở rộng thị trường cho nhiều chủ thể khác trong chuỗi giá trị.
Một di sản chỉ thực sự có sức sống khi những giá trị của nó hiện diện trong đời sống của cộng đồng. Ở Yên Tử, điều đó không chỉ thể hiện qua lượng khách ngày càng tăng hay những sản phẩm du lịch mới, mà còn ở việc người dân địa phương đang từng bước tham gia vào quá trình tạo ra giá trị từ chính những gì thuộc về quê hương mình.
Một ví dụ rõ nét là làng nghề mai cảnh Yên Tử tại khu Tây Sơn, phường Bình Khê. Nghề trồng mai ở đây hình thành từ năm 1992, đến nay có 52 hộ với 95 người tham gia; riêng năm 2025, doanh thu của làng nghề đạt 28,8 tỷ đồng. Cây mai không chỉ tạo việc làm, thu nhập mà còn gắn với không gian văn hóa, tâm linh đặc trưng của vùng Yên Tử.
Ông Đỗ Xuân Chính, một hộ trồng mai lâu năm ở khu Tây Sơn, cho biết người dân gắn bó với nghề không chỉ vì hiệu quả kinh tế mà còn bởi tình yêu và niềm tự hào với cây mai vàng Yên Tử - loài cây gắn với truyền thống, bản sắc của vùng đất Phật. Việc địa phương hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận làng nghề cũng mở ra kỳ vọng phát triển thêm du lịch trải nghiệm, để du khách có thể đến tham quan, tìm hiểu quy trình trồng và chăm sóc mai.
Câu chuyện ở Tây Sơn cho thấy, kinh tế di sản không nhất thiết bắt đầu từ những dự án lớn. Nó có thể bắt đầu từ một nghề truyền thống, một sản phẩm địa phương, một không gian văn hóa được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Khi những giá trị ấy được kết nối với du lịch và thị trường, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn tạo thêm sinh kế cho cộng đồng.
Ở Yên Tử, hướng phát triển này đang được mở rộng. Từ một điểm đến chủ yếu tập trung vào mùa lễ hội, địa phương đang tổ chức thêm các hoạt động thể thao, văn hóa, nghỉ dưỡng, sinh thái và trải nghiệm để kéo dài mùa du lịch. Khi thời gian lưu trú được kéo dài và sản phẩm được đa dạng hóa, cơ hội tham gia của người dân cũng rộng hơn, từ cung cấp nông sản, ẩm thực, sản phẩm thủ công đến dịch vụ lưu trú, trải nghiệm văn hóa, hướng dẫn và các hoạt động cộng đồng. Đây là hướng đi giúp giá trị kinh tế lan tỏa ra ngoài những khu, điểm du lịch được đầu tư tập trung.
Từ Yên Tử nhìn rộng ra toàn thành phố Quảng Ninh, dư địa ấy còn rất lớn. Thành phố đang sở hữu 609 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, hơn 360 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 19 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhiều giá trị trong số đó đang được từng bước chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, dịch vụ và các hoạt động văn hóa mới.
Tại phường Cẩm Phả, show thực cảnh kết hợp ẩm thực “Đi tìm dấu ngọc” tại hang Ngọc Rồng là một ví dụ. Câu chuyện lịch sử, văn hóa vùng mỏ được chuyển tải bằng nghệ thuật trình diễn, ánh sáng, âm thanh, công nghệ đa phương tiện và ẩm thực, tạo thành một sản phẩm trải nghiệm mới trên nền giá trị của di sản. Đến tháng 9/2026, sản phẩm này đã được hơn 100 doanh nghiệp lữ hành, các cơ quan truyền thông và đối tác trong nước khảo sát, trải nghiệm để xây dựng tour và kết nối điểm đến.
Trên vịnh Hạ Long, các sản phẩm du thuyền nghỉ đêm cũng được làm mới bằng việc đưa trải nghiệm văn hóa bản địa, nghệ thuật truyền thống và ẩm thực đặc trưng vào hành trình. Nhiều lễ hội truyền thống tại các địa phương tiếp tục được phục dựng, tổ chức theo hướng vừa bảo tồn bản sắc, vừa tạo không gian giao lưu cộng đồng, quảng bá địa phương và thu hút du khách.
Những cách làm này gợi mở một hướng phát triển khác, không nhất thiết phải xây thêm nhiều công trình vào vùng di sản để tạo tăng trưởng; có thể tạo thêm giá trị bằng cách kể lại câu chuyện di sản theo cách mới, tổ chức lại sản phẩm và đưa nhiều chủ thể hơn vào chuỗi giá trị. Đây cũng là vấn đề được các chuyên gia đặt ra đối với Yên Tử. Tại hội nghị khoa học về định hướng phát triển đô thị di sản Yên Tử, các nhà khoa học nhấn mạnh phát triển phải dựa trên giá trị cốt lõi của di sản, bảo vệ không gian thiêng và cảnh quan; đồng thời nghiên cứu mô hình kinh tế di sản đa ngành, kết hợp bảo tồn với kinh tế xanh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và sự tham gia của cộng đồng.
Với Quảng Ninh, yêu cầu này đang được cụ thể hóa bằng cả cơ chế quản lý và cách tổ chức phát triển. Quyết định số 35/2026/QĐ-UBND về Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn đã làm rõ hơn trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân và cộng đồng; đồng thời tăng cường phân cấp, phối hợp trong quản lý, bảo vệ và phát huy di sản. Đây là điều kiện quan trọng để nguồn lực xã hội được huy động đúng hướng. Doanh nghiệp có thêm không gian để đầu tư, sáng tạo sản phẩm; chính quyền có cơ sở để quản lý, kiểm soát những tác động đến di sản; còn người dân có cơ hội tham gia sâu hơn vào quá trình tạo ra giá trị và hưởng lợi từ những giá trị ấy. Bởi vậy, hiệu quả của kinh tế di sản không nên chỉ nhìn từ số dự án được đầu tư, số vốn huy động hay lượng khách đến. Với cộng đồng, một thước đo quan trọng hơn là người dân có thêm việc làm, có thêm thu nhập và có thêm động lực để gìn giữ những giá trị văn hóa của chính mình hay không.
Yên Tử đã có hơn hai thập niên để kiểm chứng quá trình huy động nguồn lực doanh nghiệp. Sau khi được UNESCO ghi danh, yêu cầu đặt ra còn cao hơn, đó là làm sao để thương hiệu di sản được nâng lên nhưng giá trị gốc không bị suy giảm; làm sao để lượng khách tăng nhưng không gian di sản vẫn được bảo vệ; làm sao để doanh nghiệp có thêm cơ hội đầu tư nhưng cộng đồng địa phương cũng có thêm sinh kế. Quảng Ninh đang lựa chọn hướng đi dựa trên sự cân bằng đó. Nhà nước hoàn thiện quy hoạch, cơ chế quản lý và tạo môi trường đầu tư; doanh nghiệp đưa vốn, công nghệ, năng lực tổ chức và sáng tạo vào phát triển sản phẩm; người dân tham gia bằng nghề truyền thống, văn hóa, dịch vụ và những giá trị bản địa; còn di sản là nền tảng phải được gìn giữ trong suốt quá trình phát triển.
Từ Yên Tử, bài toán kinh tế di sản vì thế không còn là khai thác được bao nhiêu từ di sản, mà là tạo thêm được bao nhiêu giá trị mà vẫn giữ được những gì không thể thay thế. Khi người dân có thêm sinh kế từ di sản, doanh nghiệp có thêm cơ hội từ di sản và di sản được gìn giữ tốt hơn, lúc đó tăng trưởng mới thực sự tạo ra giá trị bền vững. Đó cũng là cách để tinh thần Nghị quyết 68 đi vào một lĩnh vực rất đặc thù, khơi thông nguồn lực tư nhân, nhưng không chạy theo khai thác đơn thuần; tạo sản phẩm mới, nhưng không đánh đổi giá trị gốc; mở rộng cơ hội kinh doanh, nhưng đồng thời mở rộng lợi ích cho cộng đồng. Và đó mới là nền tảng để kinh tế di sản trở thành một động lực phát triển dài hạn của thành phố Quảng Ninh.
Thực hiện: VIỆT ANH
Trình bày: MẠNH HÀ