Nâng tầm giá trị nông sản

Xây dựng vùng sản xuất tập trung, củng cố thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại là hướng đi Quảng Ninh đang triển khai nhằm tạo nguồn nguyên liệu ổn định, nâng chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Tránh thừa, thiếu cục bộ

Bà con Bình Liêu phơi miến dong.
Bà con Bình Liêu phơi miến dong.

Bài học từng có về sản phẩm ba kích Ba Chẽ, miến dong Bình Liêu, chè Đường Hoa vốn định hình thương hiệu tuy nhiên lại xảy ra tình trạng thừa, thiếu cục bộ về nguyên liệu giai đoạn 2014-2018, đã buộc nông nghiệp Quảng Ninh phải nhìn lại kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu nông sản một cách ổn định. Ông Nguyễn Xuân Tùng, Phó Giám đốc Công ty CP Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu cho biết: Ở cao điểm phát triển nóng, người dân Bình Liêu phá bỏ nhiều loại cây trồng để trồng dong riềng. Tuy nhiên khi sản phẩm miến dong khó bán, người dân lại ồ ạt phá dong riềng... Năm 2017 đã ghi nhận doanh nghiệp chế biến miến dong chỉ sản xuất được một vụ, thậm chí phải nhập nguyên liệu từ vùng khác về, ít nhiều ảnh hưởng đến thương hiệu miến dong Bình Liêu. Tình trạng này cũng xảy ra với cây chè Đường Hoa những năm 2014-2016, khi sản phẩm chè tồn kho, người trồng chè bỏ hàng trăm héc ta chè trưởng thành. Với sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ, có thời điểm gần như chỉ có tên gọi chứ không có sản phẩm thực tế…

Xác định vùng nguyên liệu là yếu tố sống còn để duy trì và phát triển sản xuất, là cơ sở để truy xuất nguồn gốc sản phẩm phục vụ thương mại và xuất khẩu, tỉnh Quảng Ninh khuyến khích phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Ông Trần Văn Thực, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh cho biết: Hướng khuyến khích là áp dụng công nghệ cao, cơ giới hoá để phát triển vùng sản xuất tập trung, đồng thời gắn với sản phẩm OCOP, sản phẩm chủ lực địa phương.  

Đến nay, toàn tỉnh hình thành 6.358ha vùng sản xuất hàng hóa tập trung đối với cây lúa, rau và cây ăn quả, trong đó khoảng 1.100ha được sản xuất theo quy trình nông nghiệp tốt, 322,35ha đạt chứng nhận VietGAP và trên 460ha đạt chứng nhận hữu cơ. Quảng Ninh cũng đã có 29 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu và 21 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ nội địa, cùng 6 mã số cơ sở đóng gói, tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản tham gia thị trường trong và ngoài nước.

Quảng Ninh cũng đã quy hoạch vùng nuôi biển, vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh. Năm 2025, đàn gà Tiên Yên đã đạt đến trên dưới 800.000 con, đàn lợn Móng Cái trên 50.000 con, sản lượng thôm thẻ chân trắng đạt cao kỷ lục với 30.000 tấn. Cũng trong năm 2025, sản phẩm miến dong Bình Liêu đạt OCOP 5 sao quốc gia, trước đó là trà hoa vàng Quy Hoa và trà hoa vàng Ba Chẽ.

Ưu tiên “chất” hơn “lượng”

Năm 2026, ngành nông nghiệp Quảng Ninh đặt mục tiêu tăng trưởng toàn ngành khoảng 4%, phấn đấu diện tích gieo trồng cây hằng năm 62.110ha, sản lượng lương thực có hạt khoảng 215.742 tấn, diện tích trồng rừng tập trung 12.500ha; sản lượng khai thác gỗ (rừng trồng): 842.000m3; tổng sản lượng thịt hơi 105.000 tấn, tổng sản lượng thủy sản khoảng 203.300 tấn. Về phát triển vùng nguyên liệu, Quảng Ninh đặt mục tiêu vùng sản xuất lúa 4.670ha; vùng sản xuất rau 1.240ha; vùng sản xuất cây ăn quả 2.261ha; vùng sản xuất hoa, cây cảnh 345ha; vùng sản xuất dong riềng 100ha; vùng sản xuất chè 287ha; vùng chăn nuôi lợn 127.000 con; vùng chăn nuôi gà: 2.200.000 con; vùng sản xuất quế 1.770ha; vùng sản xuất hồi 8.210ha; diện tích vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung khoảng 18.040ha, trong đó vùng nuôi tôm 6.120ha; vùng nuôi cá biển 1.419ha; vùng nuôi nhuyễn thể 9.100ha; vùng nuôi thủy sản nước ngọt 1.401ha.

Công ty CP Thương mại dịch vụ và sản xuất DNG Phú Lâm đầu tư dây chuyền giết mổ gia súc lớn hiện đại để gia tăng giá trị cho sản phẩm.
Công ty CP Thương mại dịch vụ và sản xuất DNG Phú Lâm đầu tư dây chuyền giết mổ gia súc lớn hiện đại để gia tăng giá trị cho sản phẩm.

Ông Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Chiến lược phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung của tỉnh giai đoạn này được triển khai đồng bộ. Đó là ưu tiên bố trí quỹ đất nông nghiệp ổn định, lâu dài; kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp; thúc đẩy hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nông nghiệp làm nòng cốt trong quản lý vùng sản xuất, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; xây dựng, cải tạo, nâng cấp, mở rộng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ; ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng sản phẩm, đăng ký bảo hộ các quyền về sở hữu của các sản phẩm... Hơn hết Quảng Ninh sẽ xây dựng, hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng sinh thái, gắn với phát triển du lịch nông nghiệp và du lịch trải nghiệm.

Thực tế hiện nay nhờ công nghệ, nhờ thiết bị, nhờ sản xuất có liên kết, bám nắm thị trường, nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung của Quảng Ninh đã trở nên bền vững và giá trị cao. Những vùng nuôi tôm công nghiệp, cá biển; vùng trồng nấm ăn, nấm thảo dược; vùng lâm sản quế hồi; vùng nuôi lợn công nghệ cao, gà bản địa… đã và đang trở thành ưu thế trong chiến lược phát triển nông sản chủ lực địa phương, góp phần cho chuyển động mạnh mẽ của kinh tế nông nghiệp toàn tỉnh. 

Ông Nguyễn Văn Đức, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh.

Ông Nguyễn Văn Đức, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh: Phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung hiện nay nhất định phải có sự liên kết nhiều nhà.

Ngành nông nghiệp Quảng Ninh hiện nay đang ưu tiên đầu tư cho các khâu sản xuất tập trung, trước tiên là về vùng nguyên liệu. Hướng đi này là đúng đắn, cần thiết, đảm bảo sự chủ động trong bối cảnh khu vực kinh tế này chịu nhiều tác động. Về phía người nông dân của tỉnh thời gian qua đã thật sự khẳng định là chủ thể, tiếp nhận, đối ứng, tham gia một cách quyết liệt, hiệu quả trong phát triển các vùng sản xuất tập trung. Trong bối cảnh hiện nay, để phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung sẽ cần phải thấy rõ hơn vai trò của cả các đơn cung ứng vốn, cung ứng công nghệ và thiết bị; từ đó hướng tới những vùng nguyên liệu nông nghiệp công nghệ cao, có chất lượng, đảm bảo tiêu chí phát triển nông nghiệp ít diện tích canh tác nhưng giá trị cao, đưa sản phẩm nông nghiệp của tỉnh đi xa hơn, chiếm lĩnh thị trường nội địa và xuất khẩu.  

Ông Nguyễn Thái Bình, Phó Giám đốc Công ty CP thương mại dịch vụ và sản xuất DNG Phú Lâm.

Ông Nguyễn Thái Bình, Phó Giám đốc Công ty CP Thương mại dịch vụ và sản xuất DNG Phú Lâm: Chúng tôi cố gắng sản xuất theo chuỗi để gia tăng giá trị.

Hiện tổng đàn bò của DNG Phú Lâm chúng tôi đang đạt trên 5.000 con. Để tự chủ sản xuất, ngoài áp dụng quy trình nuôi vỗ tiên tiến giống bò ngoại, DNG Phú Lâm là một trong những đơn vị chủ động xây dựng vùng thức ăn cho bò, đầu tư vào xử lý chất thải chăn nuôi gắn với kinh tế tuần hoàn, và gần đây nhất DNG Phú Lâm đã đưa dây chuyền giết mổ bò hiện đại vào vận hành. Công suất của dây chuyền này lên tới 60 tấn/ngày đêm, hiện chúng tôi đang vận hành ở mức 30 tấn/ngày đêm. Từ việc kết nối các khâu sản xuất như trên, DNG Phú Lâm gia tăng được quy mô và giá trị, hướng tới mục tiêu nâng tổng đàn bò lên 10.000 con trong năm nay và 20.000-30.000 tính đến năm 2030, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đàn gia súc lớn của tỉnh.

Bà Đặng Thị Liên, Giám đốc HTX nông nghiệp và dịch vụ tổng hợp Vạn Thành Phát.

Bà Đặng Thị Liên, Giám đốc HTX nông nghiệp và dịch vụ tổng hợp Vạn Thành Phát: Không nhất thiết phải mở rộng về quy mô diện tích mà nên tính tới chuyện đầu tư về chất lượng và thương hiệu.

Chúng tôi nuôi lợn Móng Cái theo hướng hữu cơ. Với hướng đi này, chúng tôi xác định đó là hướng đi chậm và chưa thể rộng mở về quy mô trong thời gian ngắn được. Càng gắn với thực tế sản xuất lợn Móng Cái, chúng tôi nhận thấy việc phát triển nhanh, nhiều tổng đàn chưa hẳn là mục tiêu cuối, mà phải là sạch, an toàn, phù hợp nhu cầu thị trường tiêu dùng để cuối cùng là sản phẩm đạt giá tiêu thụ cao, có khả năng chế biến sâu và đi vào những đối tượng khách hàng chấp nhận mức giá cao để tiêu dùng lợn Móng Cái. Trong bối cảnh con lợn nói chung, lợn Móng Cái nói riêng đang đối mặt với dịch tả lợn châu Phi thì việc hướng vào chất lượng thay vì số lượng cũng là một cách làm phù hợp.

Ông Đặng Văn Trung, khu Địa Mối, phường An Sinh.

Ông Đặng Văn Trung, khu Đìa Mối, phường An Sinh: Chúng tôi cần sự khuyến khích của nhà nước.

Gia đình tôi canh tác cây na, góp phần vào diện tích vùng trồng na tập trung của phường An Sinh hiện nay. Qua thực tế sản xuất, chúng tôi thấy rằng bản thân xác định gắn bó với công việc nông nghiệp, có kinh nghiệm canh tác, sẵn sàng bỏ tiền của gia đình để đầu tư cho vườn đồi. Cái chúng tôi cần hiện nay chính là sự rõ ràng về vùng quy hoạch, về định hướng phát triển thương hiệu và sự hỗ trợ để chúng tôi dễ dàng tiếp cận giống mới, công nghệ, kỹ thuật thiết bị mới để áp dụng trên cây na. Và điều này tôi nghĩ chỉ nhà nước hỗ trợ chúng tôi được, vì thông qua vai trò quản lý nhà nước để giúp chúng tôi đến với đơn vị chuyên môn, với chính quyền địa phương và đến với các nhà khoa học. Khi có sự đồng hành từ nhiều phía như vậy, người dân chúng tôi tin rằng sẽ phát triển tốt các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung.

Có thể bạn quan tâm