Khơi dậy nội lực nông dân vùng cao

Bám sát nhu cầu của hội viên, các cấp Hội Nông dân Quảng Ninh đã đưa nhiều hoạt động hỗ trợ về cơ sở, tạo điều kiện để nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tiếp cận nguồn lực, kiến thức, khoa học kỹ thuật, từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm.

Hội nông dân xã Đông Ngũ hỗ trợ hội viên livestream bán hàng qua mạng xã hội.
Hội nông dân xã Đông Ngũ hỗ trợ hội viên livestream bán hàng qua mạng xã hội.

Bám sát nhu cầu của hội viên, các cấp Hội Nông dân Quảng Ninh đã đưa nhiều hoạt động hỗ trợ về cơ sở, tạo điều kiện để nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tiếp cận nguồn lực, kiến thức, khoa học kỹ thuật, từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm. Sự đồng hành ấy đang khơi dậy tinh thần chủ động, ý chí vươn lên của người dân, biến những tiềm năng, lợi thế sẵn có thành sinh kế, thu nhập và động lực phát triển ngay từ mỗi thôn, bản.

Chủ động mở hướng làm ăn

Ở thôn Khe Vằn, xã Bình Liêu, anh Chìu A Nhì, người dân tộc Dao, là một trong những nông dân mạnh dạn tìm hướng phát triển kinh tế mới. Năm 2022, nhận thấy điều kiện tự nhiên phù hợp, anh quyết định đầu tư khoảng 1 tỷ đồng nuôi cá tầm - đối tượng nuôi còn khá mới so với sản xuất truyền thống của người dân địa phương.

Khởi đầu với một mô hình mới không dễ dàng. Anh Nhì vừa làm, vừa tìm hiểu kỹ thuật, tích lũy kinh nghiệm, từng bước điều chỉnh cách chăm sóc để cá thích nghi và phát triển tốt. Từ những bể nuôi ban đầu, đến nay, khu nuôi của gia đình đã phát triển lên 8 bể, duy trì tổng đàn khoảng 1 vạn con. Sau những năm kiên trì, mô hình đã từng bước cho thấy triển vọng, tạo thêm nguồn thu và mở ra hướng phát triển kinh tế lâu dài cho gia đình.

img.jpg
Mô hình nuôi cá tầm của anh Chìu A Nhì, thôn Khe Vằn, xã Bình Liêu.

Anh Chìu A Nhì cho biết: “Từ khi đầu tư nuôi cá tầm, kinh tế gia đình ổn định hơn, mỗi năm mô hình cho thu nhập khoảng vài trăm triệu đồng. Qua quá trình vừa làm vừa học hỏi, tôi cũng tích lũy được thêm kinh nghiệm, nắm chắc hơn kỹ thuật nuôi”.

Còn tại thôn Kéo Chản, xã Lục Hồn, sau thời gian tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm từ những mô hình thực tế, anh Tằng Dảu Sếnh lựa chọn nuôi ong bắp cày lấy nhộng. Năm 2022, anh bắt đầu thử nghiệm với một tổ ong. Khoản vay 50 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội đã giúp anh có thêm điều kiện đầu tư cho hướng sản xuất còn khá mới mẻ này.

Từ một tổ ban đầu, đến nay gia đình anh Sếnh đã phát triển lên 3 tổ. Theo số liệu từ mô hình, mỗi tổ có thể cho thu khoảng 200kg nhộng, với giá bán khoảng 400.000 đồng/kg. Quy mô chưa lớn, song kết quả bước đầu đã mở thêm một nguồn sinh kế, tạo điều kiện để gia đình tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất. Anh Sếnh chia sẻ: “Ban đầu tôi chỉ nuôi thử một tổ, vừa làm vừa học hỏi thêm kinh nghiệm. Thấy mô hình phù hợp, cho hiệu quả kinh tế khá nên gia đình tiếp tục phát triển thêm. Hiện nay, nuôi ong bắp cày đã mang lại nguồn thu ổn định cho gia đình”.

Từ cá tầm đến ong bắp cày lấy nhộng, mỗi mô hình có cách làm, quy mô và điều kiện đầu tư khác nhau, nhưng đều cho thấy một điểm chung: Sự chủ động của người nông dân trong tìm kiếm sinh kế mới. Người dân không còn chỉ nhìn vào những gì đã quen thuộc, mà ngày càng quan tâm hơn đến việc khai thác đất đai, khí hậu và điều kiện sản xuất; mạnh dạn học hỏi kỹ thuật, tính toán đầu ra, hiệu quả kinh tế để lựa chọn hướng phát triển phù hợp. Những chuyển biến ấy đang góp phần thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống và tạo thêm sức bật cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Tiếp sức để nông dân vươn lên

Để những cách làm mới không dừng ở một vài mô hình riêng lẻ, những năm qua, các cấp Hội Nông dân Quảng Ninh đã hướng mạnh hoạt động về cơ sở, bám sát nhu cầu của hội viên, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Từ hỗ trợ vốn, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến đào tạo nghề, liên kết sản xuất, các hoạt động đều hướng tới tạo thêm điều kiện để nông dân phát huy tính chủ động, từng bước nâng cao năng lực sản xuất và tự vươn lên.

img-9755.jpg
Nông dân xã Lục Hồn tham gia sản xuất phân trùn quế, vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ môi trường.

Một trong những trọng tâm là giúp nông dân thay đổi tư duy và nâng cao kỹ năng sản xuất. Trong 5 năm qua, Hội đã phối hợp đào tạo nghề cho 8.128 lao động, bồi dưỡng chuyên sâu cho 1.929 nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi và nông dân xuất sắc; tổ chức hơn 100 hội nghị tập huấn cho trên 5.500 lượt cán bộ, hội viên về kỹ năng liên kết và tư duy hợp tác. Đáng chú ý, mô hình “Nông dân dạy nông dân” được phát huy với cách làm những hộ sản xuất, kinh doanh giỏi trực tiếp “cầm tay chỉ việc”, chia sẻ kinh nghiệm ngay tại mô hình. Qua đó, kiến thức, kỹ thuật được chuyển tải theo cách gần gũi, sát với nhu cầu và điều kiện sản xuất của người dân.

Cùng với kiến thức, nguồn vốn là điểm tựa để hội viên mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất. Đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân toàn tỉnh đạt 77,863 tỷ đồng, cho 697 hộ vay qua 110 dự án. Các dự án vay vốn được định hướng gắn với liên kết, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Hội cũng phối hợp với các ngân hàng ủy thác hơn 2.300 tỷ đồng cho trên 27.000 hội viên vay phát triển sản xuất, kinh doanh.

img-6002.jpg
Hội Nông dân xã Đông Ngũ hỗ trợ hội viên livestream bán hàng qua mạng xã hội.

Không chỉ giúp từng hộ có thêm điều kiện làm ăn, Hội còn chú trọng kết nối nông dân, từng bước khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ. Giai đoạn 2021-2025, các cấp Hội trực tiếp tư vấn, hướng dẫn, vận động thành lập mới 72 hợp tác xã, 90 tổ hợp tác; phối hợp tập huấn về liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Từ chỗ chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm của từng hộ, nhiều nông dân đã quan tâm hơn đến hợp tác, thị trường, xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.

Vai trò của Hội trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi còn được thể hiện qua những hoạt động trực tiếp cải thiện đời sống người dân. Các nguồn lực xã hội được huy động để hỗ trợ những địa bàn khó khăn xây dựng công trình vệ sinh, cải thiện môi trường sống; tuyên truyền, vận động hội viên tham gia BHYT, BHXH và sản xuất nông sản an toàn. Đến nay, đã có 97.032 hội viên tham gia BHYT.

Từ những nguồn lực được đưa về cơ sở, điều quan trọng hơn cả là tinh thần chủ động của người nông dân ngày càng được khơi dậy. Khi người dân có kiến thức, có thêm điều kiện về vốn và biết liên kết để phát triển sản xuất, mỗi mô hình hiệu quả không chỉ tạo sinh kế cho một gia đình, mà còn có thể lan tỏa cách nghĩ, cách làm trong cộng đồng. Đó cũng là cách tổ chức Hội góp phần biến sự hỗ trợ thành nội lực, cùng nông dân tạo nên những chuyển biến bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Ngô Dịu

Có thể bạn quan tâm