Có những trang sử không chỉ được lưu giữ trong sách vở, mà còn hiện diện trong ký ức mỗi gia đình, qua câu chuyện về những người ông, người cha từng cống hiến cho cách mạng, những bức ảnh ngả màu hay kỷ vật thời chiến. Từ niềm tự hào và sự biết ơn ấy, truyền thống được tiếp nối, trở thành động lực để các thế hệ hôm nay nuôi dưỡng khát vọng cống hiến, viết tiếp những trang mới trên hành trình xây dựng quê hương, đất nước.
Ngôi nhà giản dị nằm trên đường Nguyễn Văn Cừ (phường Hạ Long) là nơi ở của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Phả (SN 1940). Không khó để tìm gặp ông, bởi ở khu phố này, người dân dành cho người anh hùng ấy sự yêu mến và kính trọng. Ông không chỉ là một người lính từng đi qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, mà còn là một phần ký ức đẹp của Vùng mỏ, một tấm gương về bản lĩnh, lòng dũng cảm và tinh thần cống hiến.
Ông Nguyễn Văn Phả kể về người con trai cả Chuẩn Đô đốc Ngô Văn Thành.
Đến thăm ông trong những ngày tháng 8, chúng tôi được nghe kể về một thời hoa lửa hào hùng, nơi sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh của người lính Hải quân Việt Nam được tôi luyện và khẳng định giữa những thử thách khắc nghiệt nhất nơi biển cả và sự truy sát ráo riết của quân địch. Đặc biệt, giữa ngôi nhà đơn sơ, điều khiến ông tự hào nhất là bức chân dung của ông và người con trai cả: Chuẩn Đô đốc Ngô Văn Thành, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Vùng 5 Hải quân. Hình ảnh hai thế hệ người lính Hải quân, cùng mang trên mình niềm tự hào về những năm tháng chiến đấu và cống hiến, là câu chuyện đẹp về một dòng chảy truyền thống được tiếp nối từ thế hệ cha - con.
Kể về cuộc đời mình, ông không nói nhiều, chỉ vắn tắt lại vài mốc thời gian quan trọng: Năm 1963 ông lên đường nhập ngũ, vào quân chủng Hải quân và được điều ra canh giữ đảo Ngọc Vừng thuộc tuyến đầu của vùng biển Quảng Ninh trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khó. Những năm sau đó, khoảng năm 1969, ông được điều làm nhiệm vụ tại Nhà máy đóng tàu hải quân ở Hải Phòng phục vụ đoàn tàu không số. Nơi đây liên tục bị ném bom. Ông cùng đồng đội đã làm việc ngày đêm để sửa chữa, lắp ráp, cải tiến thân tàu thành các thiết bị phóng từ phục vụ lực lượng rà phá thủy lôi, bảo đảm huyết mạch giao thông trên biển và đóng góp vào chiến công chung của đoàn tàu không số. Để ghi nhận những năm tháng cống hiến thầm lặng không ngừng nghỉ để đưa tàu ra khơi, tiếp viện cho tiền tuyến, ông đã được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang thời kỳ chống Mỹ.
Điều khiến ông tự hào và cũng là câu chuyện ông say sưa kể mãi, là về người con trai đã tiếp bước cha, tiếp tục mang trên mình màu áo Hải quân, ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc. Trên bức tường đơn sơ của ngôi nhà, những bức ảnh của Chuẩn Đô đốc Ngô Văn Thành được ông trân trọng treo ở vị trí trang trọng nhất, tiếp đó là cuốn lịch có in hình anh đang làm nhiệm vụ tại Phú Quốc.
Chuẩn Đô đốc Ngô Văn Thành (hàng đầu thứ 2, trái sang) và lãnh đạo các tỉnh, thành phố kiểm tra, động viên kíp trực Trạm ra đa 595, Trung đoàn 551. (Ảnh: Gia đình cung cấp)
Tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình, anh Thành lựa chọn gắn bó với biển và mang trong mình quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển quê hương. Từ những câu chuyện, ký ức và phẩm chất được hun đúc qua lời kể của cha, anh càng thấm thía giá trị của sự hy sinh, lòng trung thành và trách nhiệm với Tổ quốc. Anh tâm niệm: Mỗi chuyến đi, mỗi nhiệm vụ trên biển đều là lời hứa với thế hệ đi trước: Quyết tâm giữ vững từng vùng biển, vùng trời của Tổ quốc bằng bản lĩnh, trí tuệ và ý chí kiên cường; góp phần xây dựng lực lượng Hải quân ngày càng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới, bảo vệ vững chắc thành quả Cách mạng mà ông cha để lại.
Ông Mai Hữu Phần cùng con trai ôn lại kỷ niệm hào hùng khi còn công tác tại mỏ than Đèo Nai.
Người Việt Nam có câu “Tre già măng mọc”, mượn hình ảnh những thế hệ tre nối tiếp nhau để nói về quy luật kế thừa và tiếp nối. Thế hệ đi trước vun đắp những giá trị tốt đẹp, thế hệ sau tiếp nhận, phát huy và viết tiếp hành trình ấy bằng sức trẻ, trí tuệ và trách nhiệm của mình. Với Vùng mỏ Quảng Ninh, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” cũng được trao truyền qua các thế hệ, trở thành giá trị bền vững, hun đúc ý chí, bản lĩnh và tinh thần đoàn kết của những người con Đất mỏ hôm nay.
Như những thanh niên của vùng đất Cẩm Phả khi ấy, ông Mai Hữu Phần (SN 1936, phường Cẩm Phả) sớm trở thành công nhân mỏ của Công ty Than Đèo Nai. Được sống và trải qua những ngày tháng lịch sử cùng quê hương, đất nước, từng có cơ duyên được gặp Bác Hồ những năm sau này, đối với ông Phần đó là niềm tự hào lớn lao, nuôi dưỡng tình yêu nước thêm nồng nàn, son sắt, thủy chung. Năm nay, ông Phần đã 90 tuổi, nhưng câu chuyện được gặp Bác lúc nào cũng được ông kể lại bằng tất cả sự trân trọng, tỉ mỉ và xúc động. Năm 1959, ông được gặp Bác Hồ nhân dịp Bác về thăm mỏ Đèo Nai. Từ lúc còn là cậu bé 15 tuổi đưa cơm vào mỏ, trở thành công nhân mỏ, tham gia công cuộc khôi phục sản xuất và trưởng thành người cán bộ công đoàn, ông Phần vẫn luôn khắc ghi lời Bác dạy. Ông coi đó không chỉ là hành trang quý giá để soi vào từng chặng đường công tác của bản thân mà còn trở thành những bài học ông dạy bảo con cháu. Ông sinh được 4 người con thì con gái cả theo nghề giáo dục, 3 người con trai đều công tác trong ngành Than và giữ những vị trí quan trọng. Anh Mai Huy Chung (con thứ hai) là thành viên Hội đồng quản trị Công ty Than Đèo Nai, anh Mai Huy Quỳnh (con thứ ba) là Phó Ban Điện lực – TKV, nguyên Giám đốc Công ty CP Công nghiệp ô tô VINACOMIN. Người con trai út cũng là công nhân Công ty Than Đèo Nai. Đến đời các cháu, nhiều người vẫn đang công tác trong ngành Than.
Gia đình ông Mai Hữu Phần có nhiều thế hệ làm ngành Than.
Ông Mai Huy Chung chia sẻ: Với chúng tôi, bố không chỉ là người sinh thành mà còn là người thầy đầu tiên dạy con về lẽ sống, trách nhiệm và niềm tự hào của người con Vùng mỏ. Qua những câu chuyện bố kể về lần được gặp Bác Hồ, về những năm tháng cùng tập thể công nhân khôi phục sản xuất, chúng tôi hiểu rằng, truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" không nằm ở những lời nhắc nhớ, mà phải được gìn giữ bằng chính cách mỗi người sống, làm việc và cống hiến. Bố thường dặn, dù ở bất cứ vị trí nào, mỗi người cũng phải làm việc bằng tất cả sự tận tâm, bởi mỗi phần việc đều góp nên thành quả chung. Những điều bố gìn giữ suốt đời cũng được truyền lại cho các thế hệ con cháu. Vì thế, chúng tôi luôn tự nhắc mình phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với truyền thống của cha ông, để những giá trị ấy tiếp tục được nối dài bằng chính sự cống hiến của mỗi thế hệ".
Từ thế hệ ông Phần đến các thế hệ sau, nghề mỏ không đơn thuần là một công việc mưu sinh, mà đã trở thành "sợi dây" gắn kết truyền thống gia đình. Mỗi thế hệ tiếp bước nhau đi vào mỏ, tiếp nối công việc của cha ông và cũng tiếp nối những giá trị đã được hun đúc qua năm tháng: “Kỷ luật và Đồng tâm”, cần cù trong lao động, trách nhiệm với công việc và tình yêu với quê hương Vùng mỏ. Với ông Phần, đó chính là cách thiết thực nhất để những lời Bác dạy năm nào tiếp tục được gìn giữ, lan tỏa trong chính gia đình mình, từ thế hệ cha ông đến con cháu hôm nay.
Từ những năm tháng chiến đấu gian khổ đến cuộc sống đời thường hôm nay, những người cựu chiến binh vẫn lặng lẽ truyền cho con cháu một “ngọn lửa” đặc biệt: Lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Không bằng những lời giáo huấn lớn lao, những người cựu chiến binh như ông Lê Long Triệu (SN 1952, phường Hạ Long) đã "gieo mầm" truyền thống qua chính câu chuyện cuộc đời, cách sống và những việc làm bình dị mỗi ngày, để các thế hệ sau tiếp tục viết nên những giá trị đẹp đẽ của gia đình bằng hành động cụ thể.
Cựu chiến binh Lê Long Triệu kể cho con cháu nghe những câu chuyện khi còn là lính đặc công gắn với kỷ vật con dao găm đã cùng ông vào sinh ra tử.
Cựu chiến binh Lê Long Triệu là bộ đội đặc công thuộc Tiểu đoàn 4 - T40 anh hùng từng nổi danh ở chiến trường Tây Nam Bộ (1970-1973). Ông cùng đồng đội từng vào sinh ra tử giữa những vòng vây đạn, pháo, xe tăng của Mỹ - Ngụy. Trên khắp cơ thể ông vẫn hằn sâu những vết thương từ các trận chiến ác liệt mà ông đã trải qua với tỷ lệ thương tật 81%. Với nghị lực phi thường, ông vẫn tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, đi nhiều nơi nói chuyện, truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ; tìm kiếm đồng đội và hỗ trợ các chương trình tri ân những chiến sĩ, đồng đội đã ngã xuống.
Tiếp nối truyền thống gia đình, con cháu trong gia đình ông đều công tác trong các đơn vị, cơ quan nhà nước, cống hiến tích cực cho xã hội, đặc biệt, các cháu của ông đều học hành giỏi giang. Ông thường nhắc con cháu về giá trị của cuộc sống hoà bình, về truyền thống gia đình và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, đất nước.
Em Nguyễn Trường Giang (cháu ngoại ông Triệu hiện là chuyên viên Tổng Công ty Hàng không Việt Nam) chia sẻ: Qua những câu chuyện ông kể từ thuở nhỏ, em càng thấm thía lý tưởng cách mạng và những hy sinh của các thế hệ cha anh đã dành trọn tuổi thanh xuân, không quản hiểm nguy, gian khổ để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Những lời ông dạy về lòng yêu nước, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, về ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc luôn được em khắc ghi. Sinh ra trong thời bình, được học tập và làm việc trong một đất nước độc lập, em càng trân trọng những gì mình đang có và ý thức rõ hơn trách nhiệm của thế hệ trẻ. Niềm tự hào ấy phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể, bằng sự tận tâm với công việc, bằng tinh thần không ngừng học hỏi và dám chịu trách nhiệm, chủ động trước những thay đổi của thời đại, làm chủ công nghệ, giữ gìn bản sắc văn hóa và sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng.
Em Lê Minh (cháu nội ông Triệu hiện là học sinh Trường THCS Trọng Điểm) chia sẻ: Từ nhỏ, em đã rất thích những câu chuyện ông kể. Em thường kể lại cho bạn bè nghe và cảm thấy vô cùng tự hào. Chúng em hiểu rằng, trách nhiệm xây dựng đất nước có thể bắt đầu từ việc chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, kỹ năng và ý thức kỷ luật; biết trân trọng lịch sử, truyền thống của cha ông và sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Với học sinh chúng em, mỗi giờ học nghiêm túc, mỗi việc tốt và tinh thần đoàn kết, giúp đỡ bạn bè hôm nay chính là sự chuẩn bị để mai này trở thành những công dân có ích, góp sức xây dựng quê hương, đất nước
Với gia đình ông Triệu, lịch sử không nằm trong những trang sách mà hiện diện trong ký ức của người cha, người ông; trong những câu chuyện được kể lại qua mỗi buổi sum họp. Điều quý giá nhất ông để lại cho con cháu chính là cách sống, cách giữ gìn phẩm chất và trách nhiệm với quê hương, đất nước, nhắc con cháu rằng: Giá trị của một đời người không nằm ở việc mình có được bao nhiêu, mà ở việc đã làm được gì cho cộng đồng. Những câu chuyện về đồng đội, về những năm tháng gian khổ, về tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ và không lùi bước trước khó khăn trở thành bài học sống động để con cháu hiểu hơn giá trị của hòa bình hôm nay.
Truyền thống gia đình không dừng lại ở ký ức, mà tiếp tục được nối dài bằng những lựa chọn, việc làm và đóng góp cụ thể của thế hệ mai sau.
Với ông Trần Quang Thanh (SN 1954, phường Đông Triều), hành trình cống hiến cho quê hương bắt đầu từ những năm tháng chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn và chưa bao giờ khép lại khi ông trở về với cuộc sống đời thường. Rời quân ngũ, mang theo phẩm chất của người lính, tinh thần kỷ luật và ý chí vượt qua gian khó, ông trở về Đông Triều, bắt tay vào xây dựng quê hương từ những việc cụ thể: Tham gia thành lập hợp tác xã, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp vào sự đổi thay của quê hương sau chiến tranh. Nhưng dấu ấn sâu đậm hơn cả là khi ông cùng những người tâm huyết đặt nền móng thành lập trường dân lập đầu tiên ở Đông Triều. Đó không chỉ là một ngôi trường, mà còn là sự lựa chọn mang ý nghĩa lâu dài: Đầu tư cho con người, gieo những hạt mầm tri thức và bồi dưỡng nhân cách để đào tạo thế hệ “hiền tài” cho quê hương.
Ông Trần Quang Thanh giới thiệu cho học sinh những chiến công lẫy lừng của Trung tướng Nguyễn Bình - Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Có lẽ chính vì từng đi qua chiến tranh, ông càng thấm thía rằng một quê hương muốn phát triển bền vững phải bắt đầu từ con người. Những năm tháng cầm súng bảo vệ Tổ quốc đã hun đúc trong ông niềm tin rằng mỗi thế hệ đều có một sứ mệnh riêng: Thế hệ cha anh đã chiến đấu để giành và giữ gìn hòa bình, còn thế hệ hôm nay phải biết trân trọng thành quả ấy bằng học tập, lao động, sáng tạo và cống hiến. Vì vậy, với ông, xây dựng trường học cũng là một cách tiếp tục phụng sự quê hương, tiếp nối những giá trị mà người lính đã mang theo suốt cuộc đời.
Cô giáo Trần Thị Việt Yên (áo dài xanh), Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Bình đưa học sinh tham gia học tập giáo dục địa phương tại chùa Bắc Mã, phường An Sinh.
Điều đáng quý là con gái của ông, chị Trần Thị Việt Yên hiện là Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Bình, gắn bó với sự nghiệp giáo dục, tiếp tục đào tạo, dìu dắt và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Hai thế hệ, hai chặng đường, nhưng cùng chung một điểm đến là cống hiến. Chị Trần Thị Việt Yên chia sẻ: Tôi luôn nghĩ, mỗi thế hệ đều có một “mặt trận” của riêng mình. Nếu cha ông đã cầm súng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Tổ quốc thì thế hệ hôm nay xây dựng đất nước, tiếp bước bằng tri thức, bản lĩnh, sức sáng tạo và tinh thần trách nhiệm. Với nghề giáo, tôi càng thấm thía điều đó. Người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn góp phần hình thành nhân cách, nuôi dưỡng lý tưởng và khơi dậy khát vọng sống đẹp, sống có ích ở mỗi học sinh. Với tôi, mỗi học sinh khi có tri thức, trưởng thành về nhân cách, vững vàng về bản lĩnh và biết cống hiến sẽ góp phần tiếp nối, lan tỏa những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã dày công vun đắp.
Để đất nước vững bước trên hành trình mới, mỗi thế hệ đều có một phần trách nhiệm viết tiếp câu chuyện của dân tộc. Từ những cựu chiến binh đã đi qua những năm tháng chiến tranh, mang theo ký ức, niềm tự hào và những giá trị được hun đúc bằng cả tuổi trẻ, đến thế hệ thanh niên hôm nay – những người đang đứng trước một thời đại mới với tri thức, khát vọng và hoài bão lớn. Sự tiếp nối ấy không chỉ nằm ở ký ức được gìn giữ, mà còn ở cách mỗi thế hệ biến những giá trị của cha ông thành hành động trong hiện tại. "Ngọn lửa" độc lập, tự do mà bao thế hệ đã đánh đổi bằng mồ hôi, máu và tuổi xuân để gìn giữ sẽ không bao giờ tắt; ngọn lửa ấy tiếp tục được thắp lên trong trái tim tuổi trẻ, trở thành niềm tự hào, ý chí và động lực để họ sống có trách nhiệm, dám ước mơ, dám cống hiến, góp sức đưa Việt Nam vững vàng tiến bước, trở thành một đất nước giàu mạnh, hùng cường, văn minh và hạnh phúc.
Thực hiện: Hoàng Quỳnh
Trình bày: Vũ Đức