Đoàn ĐBQH thành phố đóng góp ý kiến vào nhiều dự án luật

Ngày 26/10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh tham gia thảo luận tổ về các dự án: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; Luật An ninh dữ liệu; Luật Định danh và xác thực điện tử; Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

bqn_tr_1793008030367-1862389907601786302-5764565675772671129-af12ebd3a22a2ece3be95eb590d05b6c.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận.

Phát biểu đề dẫn, đại biểu Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh, đề nghị làm rõ các quy định về hậu kiểm phòng cháy, chữa cháy; quản lý, sử dụng vật liệu nổ và bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu an toàn, an ninh với thực tiễn sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí lựa chọn đối tượng hậu kiểm, phân định trách nhiệm giữa lực lượng công an, cơ quan xây dựng và chính quyền cấp xã, phường. Việc chuyển sang hậu kiểm cần đi đôi với cơ chế giám sát hiệu quả, tránh buông lỏng quản lý, nhất là đối với nhà cao tầng, cơ sở lưu trú, karaoke và nhà xưởng. Bên cạnh đó, cần quan tâm các điều kiện về quy hoạch, kiến trúc, đường tiếp cận cho xe chữa cháy, nguồn nước và lối thoát hiểm để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, hạn chế thiệt hại khi xảy ra sự cố.

bqn_tr_1793008030876-1862389907601786302-5764565675772671129-b0d139be6983ffc5246a3e1cc0a29d1e.jpg
Đại biểu Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh, phát biểu tại phiên thảo luận.

Từ thực tiễn địa bàn Quảng Ninh, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ những bất cập trong quản lý, sử dụng vật liệu nổ phục vụ khai thác than, đá và khoáng sản. Theo đó, cần có quy định phù hợp với tiến bộ khoa học, kỹ thuật và đặc điểm từng loại mỏ, tránh áp dụng định mức cứng nhắc giữa lượng thuốc nổ sử dụng với khối lượng đất đá khai thác, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm và đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, việc tháo gỡ phải gắn với kiểm soát chặt chẽ, bởi vật liệu nổ liên quan trực tiếp đến an toàn, an ninh và có thể gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu bị sử dụng sai mục đích.

Đối với dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đại biểu đề nghị quan tâm tính khả thi của các quy định về khu vực cấm, hành lang bảo vệ công trình quân sự, kho vũ khí, đạn dược và trường bắn trong điều kiện đô thị đã hình thành, dân cư sinh sống đông đúc. Việc tổ chức thực hiện cần tính đến đặc điểm từng địa bàn, điều kiện kinh phí, phương án di dời và bồi thường, đồng thời bảo đảm yêu cầu bảo vệ quốc phòng, an ninh.

Đại biểu cũng nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa công an, quân đội và các lực lượng liên quan, nhất là trong bảo vệ công trình lưỡng dụng tại khu vực biên giới và quản lý, ứng phó với phương tiện bay không người lái. Đại biểu đề nghị các quy định pháp luật vừa bảo đảm tính nghiêm minh, chặt chẽ trong quản lý nhà nước, vừa sát thực tiễn, có tính khả thi và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội.

bqn_tr_1793008030759-1862389907601786302-5764565675772671129-3ea7a3831f18a85a955657d76070140a.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố, phát biểu thảo luận.

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn ĐBQH thành phố, cơ bản thống nhất với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại; đồng thời đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.

Đối với việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong công tác phòng cháy, chữa cháy, đại biểu đồng tình với chủ trương cắt giảm thủ tục kiểm tra nghiệm thu của cơ quan quản lý chuyên ngành, chuyển trách nhiệm nghiệm thu và bảo đảm an toàn cho chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, phương tiện. Tuy nhiên, dự thảo cần quy định rõ điều kiện đưa công trình, phương tiện vào khai thác, sử dụng; xác định trách nhiệm của chủ đầu tư, đơn vị thi công, tư vấn giám sát và đơn vị vận hành. Đồng thời, cần bổ sung quy định nghiêm cấm hành vi làm giả, làm sai lệch hồ sơ, kết quả nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy và sử dụng chứng từ thử nghiệm giả.

Về công tác hậu kiểm, đại biểu cho rằng cần xây dựng cơ chế kiểm tra dựa trên mức độ rủi ro, ưu tiên công trình có nguy cơ cháy, nổ cao, tập trung đông người hoặc hạn chế khả năng thoát nạn. Dự thảo cũng cần phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng, cơ quan đăng kiểm và UBND cấp xã; thiết lập cơ chế phối hợp, chia sẻ kết quả kiểm tra, theo dõi khắc phục vi phạm, tránh chồng chéo. Đại biểu đề xuất chủ đầu tư, chủ sở hữu chủ động khai báo, cập nhật thông tin nghiệm thu vào cơ sở dữ liệu phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, làm căn cứ để cơ quan quản lý theo dõi và tổ chức kiểm tra mà không phải chờ chấp thuận.

Đối với quy định miễn công bố hợp quy, miễn kiểm tra chất lượng phương tiện phòng cháy, chữa cháy nhập khẩu khi có kết quả đánh giá sự phù hợp được công nhận, đại biểu cho rằng cần làm rõ điều kiện công nhận kết quả đánh giá, yêu cầu về sản phẩm, kiểu loại, đặc tính an toàn, hiệu lực chứng nhận cũng như năng lực và phạm vi hoạt động của tổ chức đánh giá. Đồng thời, cần quy định trách nhiệm truy xuất nguồn gốc của nhà nhập khẩu, cơ chế kiểm tra theo rủi ro, cảnh báo và thu hồi sản phẩm không bảo đảm chất lượng, cũng như xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm quản lý chất lượng vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy.

Về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, đại biểu thống nhất với định hướng cắt giảm thủ tục, rút ngắn thời gian cấp phép và đơn giản hóa hồ sơ. Tuy nhiên, dự thảo cần bổ sung quy trình kiểm kê, niêm phong, bàn giao và vận chuyển an toàn công cụ hỗ trợ tồn kho khi thu hồi giấy phép; xác định rõ trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cơ quan cấp phép và cơ quan tiếp nhận. Đối với trường hợp doanh nghiệp phá sản, mất khả năng hoạt động hoặc người quản lý vắng mặt, cần quy định thời hạn và cơ chế để cơ quan công an chủ động xử lý.

Đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc tự ý cải tiến, can thiệp kỹ thuật vào tàu bay không người lái, phương tiện tự hành và thiết bị công nghệ mới nhằm gắn, mang vũ khí, vật liệu nổ hoặc công cụ gây sát thương. Qua đó, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội.

bqn_tr_1793008030624-1862389907601786302-5764565675772671129-526c951c7448f3b59ac0702a340c2af6.jpg
Đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, ĐBQH thành phố, phát biểu tại phiên thảo luận.

Liên quan đến dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, ĐBQH thành phố đề nghị đánh giá kỹ điều kiện thực hiện hậu kiểm trước khi cắt giảm các thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an toàn, tính mạng người dân.

Theo đại biểu, việc đơn giản hóa thủ tục là cần thiết nhưng phải bảo đảm đủ cơ sở dữ liệu, nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện. Đối với phòng cháy, chữa cháy, nếu bỏ khâu kiểm tra nghiệm thu của cơ quan nhà nước, chỉ dựa vào kết quả tự nghiệm thu của chủ đầu tư thì khó bảo đảm các hệ thống, thiết bị vận hành an toàn trên thực tế.

Đại biểu đề nghị cân nhắc giữ cơ chế tiền kiểm đối với công trình, phương tiện có nguy cơ cao; đồng thời đánh giá đầy đủ tác động của việc miễn kiểm tra chất lượng phương tiện phòng cháy, chữa cháy nhập khẩu và các quy định liên quan đến quản lý vũ khí, vật liệu nổ. Việc cắt giảm thủ tục cần gắn với điều kiện thực thi, bảo đảm an toàn xã hội và tính mạng người dân.

Tại phiên thảo luận chiều cùng ngày, tham gia đóng góp ý kiến đối với dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đại biểu Quản Minh Cường, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh đề nghị quy định rõ cơ chế nộp phạt từ xa đối với trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền, thông qua Kho bạc Nhà nước hoặc hệ thống bưu điện, kết hợp chứng từ điện tử và xác thực thông tin. Cách làm này giúp giảm chi phí đi lại, tạo thuận lợi cho người dân, đồng thời hạn chế phát sinh tiêu cực trong quá trình thực hiện.

Đối với Luật Định danh và xác thực điện tử, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu cá nhân, đề nghị quy định rõ việc lưu trữ dữ liệu phải nằm trong phạm vi quản lý, kiểm soát của Việt Nam, tránh nguy cơ bị xâm nhập, thay đổi hoặc làm lộ thông tin. Theo đại biểu, dữ liệu định danh gắn với nhiều thông tin quan trọng về nhân thân, tài sản và đời sống riêng tư, do đó cần có quy định chặt chẽ về trách nhiệm quản lý, bảo vệ dữ liệu ngay trong luật.

Thảo luận đối với dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) và Luật Định danh và xác thực điện tử, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố, đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng rõ trách nhiệm, bảo đảm tính khả thi và quyền lợi của người dân. Đối với việc đưa người vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đại biểu đề nghị ưu tiên thẩm quyền quyết định của Tòa án nhân dân khu vực theo thủ tục rút gọn; trường hợp giao Chủ tịch UBND cấp xã quyết định cần có cơ chế kiểm soát tư pháp kịp thời, bảo đảm quyền tiếp cận hồ sơ và trợ giúp pháp lý.

Về xử lý vi phạm hành chính, đại biểu đề nghị làm rõ cách tính thời hiệu đối với người vi phạm trốn tránh, bổ sung thời hạn chuyển hồ sơ khi phát hiện dấu hiệu tội phạm, đồng thời rà soát mức phạt tại các thành phố để phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Đối với xử phạt trên môi trường điện tử, cần quy định rõ thời điểm quyết định xử phạt được coi là đã nhận hợp lệ, bảo đảm việc cập nhật, lưu trữ dữ liệu đầy đủ và đồng bộ.

Về Luật Định danh và xác thực điện tử, đại biểu đề nghị tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, hạn chế yêu cầu người dân, doanh nghiệp khai báo nhiều lần; làm rõ trách nhiệm đầu tư, quản lý và bảo vệ dữ liệu. Đồng thời, cần quy định cụ thể việc lưu trữ, xử lý dữ liệu sau thời hạn lưu giữ và bảo đảm giấy tờ điện tử trên ứng dụng VNeID có giá trị sử dụng tương ứng giấy tờ bản giấy theo quy định pháp luật.

bqn_tr_1793008030495-1862389907601786302-5764565675772671129-7eaeb93f8e8a8aa9038805237b4037ab.jpg
Đại biểu Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, ĐBQH thành phố phát biểu thảo luận.

Thảo luận về dự thảo Luật An ninh dữ liệu đại biểu Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, ĐBQH thành phố thống nhất với sự cần thiết ban hành luật, đồng thời đề nghị làm rõ phạm vi quản lý, thẩm quyền thẩm định và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, trên cơ sở ý kiến của Bộ Quốc phòng. Về thẩm quyền thẩm định an ninh dữ liệu tại điểm c khoản 2 Điều 11, đại biểu đề nghị quy định Bộ Quốc phòng chủ trì thẩm định đối với dữ liệu quân sự, quốc phòng thuộc phạm vi quản lý; Ban Cơ yếu Chính phủ thẩm định đối với hệ thống thông tin cơ yếu. Theo đại biểu, cách quy định này giúp xác định thẩm quyền theo đúng đối tượng cần bảo vệ, tránh phát sinh cách hiểu khác nhau khi dữ liệu quân sự, quốc phòng được lưu trữ, xử lý trên hệ thống dùng chung hoặc hệ thống lưỡng dụng.

Đối với khoản 6 Điều 26 về phạm vi quản lý nhà nước, đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm của Bộ Quốc phòng đối với dữ liệu, hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng thuộc phạm vi quản lý và hệ thống thông tin cơ yếu theo thẩm quyền. Đồng thời, với hoạt động dân sự, kinh tế của doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng tại khoản 3 Điều 26, cần bổ sung cụm từ “theo thẩm quyền” để phân định rõ trách nhiệm quản lý theo tính chất hoạt động và dữ liệu, tránh chồng chéo giữa các cơ quan, nhất là với những doanh nghiệp thực hiện đồng thời nhiệm vụ kinh tế và quốc phòng.

Về thẩm định, kiểm tra dữ liệu đối với hệ thống thông tin lưỡng dụng tại khoản 10 Điều 26, đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm không tổ chức hai lần thẩm định, kiểm tra đối với cùng một nội dung. Theo đó, cơ chế phối hợp cần xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, phạm vi đánh giá và việc sử dụng chung kết quả, vừa tránh trùng lặp, vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ dữ liệu quân sự, quốc phòng.

Nguyễn Thanh

Có thể bạn quan tâm