ĐBQH thành phố Quảng Ninh đóng góp ý kiến vào các dự án luật quan trọng

Ngày 24/10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các ĐBQH tập trung cho ý kiến tại phiên thảo luận tổ đối với các dự án: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

bqn_tr_1792819746934-6074166726161259309-g5194130290808953203-ffa69d965e14a8a975e02845268d658e.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận.

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh, Tổ trưởng tổ thảo luận, nhấn mạnh: Đối với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), yêu cầu giải quyết những chồng lấn trong sử dụng không gian biển, làm rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, bảo đảm hài hòa lợi ích phát triển kinh tế, sinh kế người dân với yêu cầu bảo vệ quốc phòng, an ninh và hệ sinh thái biển. Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về đấu giá, cho thuê khu vực biển, bảo đảm quản lý chặt chẽ, ngăn ngừa tiêu cực và tạo điều kiện để người dân tiếp cận, khai thác hiệu quả các lợi ích từ biển.

Với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đồng chí đề nghị các quy định phải xuất phát từ thực tiễn, nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm, nhất là trong thẩm định, đánh giá tác động môi trường và xử lý chất thải. Việc phân cấp thẩm quyền cần đi đôi với bảo đảm năng lực chuyên môn, nguồn lực và trách nhiệm của các cơ quan thực thi; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để ngăn chặn tình trạng làm sai lệch số liệu quan trắc, hình thức trong đánh giá tác động môi trường.

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đồng chí lưu ý cần rà soát các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo hướng gắn với cam kết cụ thể về công nghệ, đào tạo và sử dụng lao động, chuyển đổi xanh; có cơ chế kiểm chứng, thu hồi ưu đãi khi nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết. Cùng với đó, cần khắc phục những bất cập, chồng chéo giữa pháp luật về đầu tư và đất đai, ngăn ngừa tình trạng lợi dụng chính sách ưu đãi, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo môi trường đầu tư minh bạch, thực chất.

Đại biểu Quản Minh Cường nhấn mạnh, việc xây dựng, sửa đổi luật cần bám sát thực tiễn, giải quyết những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện, tránh tình trạng quy định thiếu khả thi hoặc phải sửa đổi nhiều lần. Qua đó, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Cho ý kiến về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ĐBQH thành phố Quảng Ninh, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng các quy định sát thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo động lực cho phát triển kinh tế.

bqn_tr_1792819746942-6074166726161259309-g5194130290808953203-87c407eed798a1aa993bce3fd46809f8.jpg
Đại biểu Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ĐBQH thành phố Quảng Ninh, phát biểu thảo luận.

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết việc sửa đổi nhằm hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu thu hút nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư lớn và cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, chính sách cần tiếp tục khuyến khích đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đại biểu đề nghị thiết kế chính sách hỗ trợ đầu tư gắn với các điều kiện, cam kết cụ thể về công nghệ, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Việc hỗ trợ cần hướng tới nâng cao giá trị gia tăng trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo; đồng thời có cơ chế kiểm chứng việc thực hiện cam kết và thu hồi ưu đãi khi dự án không đáp ứng điều kiện.

Theo đại biểu, chính sách thu hút đầu tư cần được xem xét trong mối liên hệ với các quy định về đất đai, lựa chọn nhà đầu tư và giao đất, cho thuê đất. Việc hoàn thiện pháp luật cần hạn chế tình trạng chồng chéo, tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện, bảo đảm các ưu đãi được sử dụng đúng mục tiêu và mang lại hiệu quả thực chất cho nền kinh tế.

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Ngô Văn Tuấn đề nghị nghiên cứu cách tiếp cận theo hướng tăng cường hậu kiểm, giám sát thường xuyên việc chấp hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường. Theo đó, cần chú trọng hệ thống quan trắc tự động, dữ liệu giám sát và cơ chế xử lý kịp thời đối với các cơ sở không đáp ứng yêu cầu về khí thải, nước thải và các thông số môi trường.

Đại biểu cho rằng, việc kiểm soát thực chất hoạt động của các cơ sở sản xuất có ý nghĩa quan trọng, bởi hồ sơ, giấy phép hay báo cáo đánh giá tác động môi trường sẽ không phát huy đầy đủ hiệu quả nếu thiếu cơ chế giám sát trong quá trình vận hành. Các quy định pháp luật cần hướng tới bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh tuân thủ tiêu chuẩn môi trường, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và phòng ngừa sự cố.

bqn_tr_1792819746938-6074166726161259309-g5194130290808953203-eaa1c733dc717f7f9b3112d08a18b6ae.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố, phát biểu thảo luận.

Phát biểu thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố, bày tỏ đồng tình với định hướng cắt giảm thủ tục, tăng cường quản lý theo mức độ rủi ro. Đồng thời đề nghị quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sau khi thực hiện cắt giảm thủ tục hành chính.

Tập trung vào 3 nhóm vấn đề, đại biểu dành nhiều thời gian phân tích các quy định về quản lý rác thải sinh hoạt. Theo đại biểu, việc phân loại rác tại nguồn chỉ thực sự hiệu quả khi các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý được thực hiện đồng bộ, giữ nguyên kết quả phân loại. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm của từng khâu, từ hộ gia đình, đơn vị thu gom đến cơ sở xử lý; đồng thời giao địa phương xác định cụ thể nhóm rác, phương thức lưu giữ, địa điểm tiếp nhận và xử lý phù hợp với hạ tầng, năng lực cung ứng dịch vụ.

Đại biểu đề nghị gắn chất lượng thu gom, xử lý với việc nghiệm thu, thanh toán dịch vụ; công khai cách tính khối lượng rác và chi phí người dân phải trả. Đối với chất thải thực phẩm, cần khảo sát các khu vực phát sinh tập trung như chợ, trường học, bếp ăn tập thể, cơ sở lưu trú để lựa chọn mô hình xử lý tại chỗ hoặc theo cụm. Việc triển khai cần đi kèm hướng dẫn vận hành, công nghệ phù hợp, kiểm soát mùi, nước thải và chất lượng sản phẩm sau xử lý; chỉ nhân rộng khi đã được kiểm chứng hiệu quả, góp phần giảm lượng rác phải xử lý tập trung và thu hồi giá trị từ chất thải.

Về thị trường carbon, đại biểu tán thành việc phát triển thị trường này, đồng thời đề nghị làm rõ cơ chế liên kết với pháp luật về lâm nghiệp và các quy định về chi trả, chia sẻ lợi ích. Theo đó, căn cứ phân chia lợi ích và trách nhiệm chi trả cần được công khai, có giải trình, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cộng đồng và các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng.

Đối với quy định về thử nghiệm công nghệ môi trường mới tại Điều 152a, đại biểu cho rằng cần tạo điều kiện cho đổi mới công nghệ nhưng phải xác định rõ giới hạn miễn, giảm hoặc tạm thời chưa áp dụng một số yêu cầu bảo vệ môi trường. Luật cần quy định những yêu cầu bắt buộc không được miễn, đặc biệt là bảo vệ sức khỏe con người; đồng thời làm rõ phạm vi, thời hạn thử nghiệm, trách nhiệm giám sát, điều kiện dừng thử nghiệm và khắc phục thiệt hại. Các nội dung kỹ thuật cụ thể có thể giao Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt.

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà nhấn mạnh, việc sửa đổi luật cần tạo ra chuyển biến thực chất trong đời sống. Người dân đã thực hiện phân loại rác thì chính quyền và đơn vị dịch vụ phải thu gom, xử lý đúng quy định; dịch vụ phải minh bạch, đồng thời người dân và cộng đồng tham gia giữ rừng phải được bảo đảm các quyền lợi hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Đặng Xuân Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội, ĐBQH thành phố, bày tỏ băn khoăn về quy định xác lập chế độ pháp lý đối với quyền sử dụng khu vực biển, đặc biệt là quy định về thế chấp quyền sử dụng khu vực biển tại Điều 35.

Theo đại biểu, việc bổ sung quy định về quyền sử dụng khu vực biển là điểm mới của dự thảo luật, có thể góp phần khai thông nguồn lực phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, khái niệm khu vực biển trong dự thảo có phạm vi rộng, bao gồm mặt nước biển, khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và không gian phía trên mặt biển, với vị trí, tọa độ, ranh giới, diện tích, độ sâu, độ cao cụ thể.

Đại biểu cho rằng cần làm rõ phạm vi và tính chất của quyền sử dụng khu vực biển, tránh cách hiểu quyền sử dụng bao trùm toàn bộ khu vực biển được xác định. Quyền này cần được xác định theo mục đích và phạm vi sử dụng cụ thể, không làm phát sinh sự chia cắt không gian biển hoặc ảnh hưởng đến các lợi ích chung.

Đối với quy định thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, đại biểu đặt vấn đề về tính khả thi khi các tổ chức tín dụng phải đánh giá tài sản bảo đảm đồng thời xem xét các yêu cầu liên quan đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển và trật tự, an toàn xã hội. Với phạm vi quyền sử dụng được xác định rộng như dự thảo, việc thẩm định và nhận thế chấp trên thực tế có thể gặp nhiều khó khăn. Đại biểu đề nghị nghiên cứu quy định theo hướng chỉ cho phép thế chấp quyền sử dụng một phần khu vực biển gắn với mục đích sử dụng cụ thể, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và quản lý hiệu quả tài nguyên biển.

Đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, ĐBQH thành phố, đề nghị cân nhắc kỹ các quy định về quỹ đầu tư, điều kiện đầu tư và hoàn thiện các dự án luật theo hướng thống nhất, khả thi. Về quỹ đầu tư, đại biểu nhất trí giữ quy định hiện hành về thẩm quyền của Chính phủ, đồng thời thực hiện việc báo cáo, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do nội dung này liên quan đến nguồn ngân sách nhà nước quy mô lớn và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.

Đối với đề xuất nới lỏng điều kiện đầu tư, đại biểu cho rằng cần cân nhắc, bảo đảm việc phân định thẩm quyền rõ ràng, đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Cơ chế pháp lý ổn định, minh bạch sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Đại biểu cũng đề nghị rà soát các quy định chuyển tiếp, thời điểm có hiệu lực của luật để tránh khoảng trống pháp lý; làm rõ các trường hợp phải thực hiện thủ tục giao, cho thuê hoặc đăng ký khu vực biển. Đồng thời, cần hạn chế các quy định cấm trùng lặp, phân định rõ phạm vi điều chỉnh giữa pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên, môi trường biển, hải đảo, tránh chồng chéo, gây khó khăn khi thực hiện.

Tham gia phát biểu thảo luận liên quan đến tài nguyên và môi trường, đại biểu Chu Lương Trí, ĐBQH thành phố, đề nghị hoàn thiện quy định về xử lý vi phạm, bồi thường thiệt hại môi trường và sử dụng hiệu quả không gian biển, tạo dư địa cho phát triển kinh tế. Đối với dự thảo Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu cho rằng quy trình xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại hiện được quy định tách rời, thiếu tính liên thông. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, sử dụng thống nhất chứng cứ và dữ liệu, đồng thời bảo đảm hai quy trình có thể tiến hành song song. Qua đó, người dân, cộng đồng bị thiệt hại không phải chờ quyết định xử phạt mới được yêu cầu bồi thường; việc xử lý vi phạm cũng không bị phụ thuộc vào tiến độ bồi thường.

Góp ý dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu nhấn mạnh cần tối ưu hóa việc sử dụng không gian biển, hài hòa giữa yêu cầu quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát triển kinh tế. Từ thực tiễn Quảng Ninh, đại biểu cho biết nhiều khu vực biển đã được quy hoạch cho các mục đích khác nhau, khiến dư địa phát triển kinh tế còn hạn chế. Đại biểu đề nghị xác định rõ căn cứ khoanh vùng biển dành riêng hoặc hạn chế sử dụng; đánh giá phương án kết hợp các mục đích trước khi loại trừ hoạt động kinh tế khi xảy ra chồng lấn. Đồng thời, cần định kỳ rà soát hiệu quả sử dụng không gian biển để kịp thời điều chỉnh quy hoạch, tạo thêm dư địa cho phát triển kinh tế - xã hội.

Nguyễn Thanh

Có thể bạn quan tâm