Hướng đến nền nông nghiệp hiện đại và giá trị cao, việc phát triển vùng nguyên liệu hiện nay được cho là cần phải gắn với các yếu tố phát triển bền vững, đó là công tác quy hoạch, quy trình sản xuất chuẩn, đảm bảo các tiêu chí về môi trường, ATTP, truy xuất nguồn gốc và hoạt động chế biến… Hơn hết, tỉnh Quảng Ninh buộc phải chọn nông sản lợi thế để phát triển vùng nguyên liệu, đồng thời gắn với thị trường tiêu thụ các nông sản lợi thế đó.
Từ vùng chè sạch Quảng Đức
Sau nhiều năm chuyển đổi, nông nghiệp Quảng Ninh đã hình thành nhiều sản phẩm chủ lực, nhiều sản phẩm OCOP 5 sao từng bước chiếm lĩnh thị trường. Điểm chung của những sản phẩm này chính là có vùng nguyên liệu ổn định phía sau.
Tại xã Quảng Đức, cây chè từng có lúc bị thu hẹp diện tích. Nhưng từ bài học đó, địa phương đang chọn hướng đi khác, đó là phát triển bền vững, lấy chất lượng làm trung tâm. Chị Nguyễn Thị Quỳnh Trang, cán bộ kỹ thuật Trung tâm cung ứng dịch vụ xã Quảng Đức chia sẻ: Toàn xã hiện có 200ha chè. Giai đoạn từ nay đến hết năm 2030, xã đặt mục tiêu phát triển thêm 40-50ha chè; đồng thời cũng phấn đấu đạt từ 30-50% diện tích canh tác chè của xã đạt chuẩn VietGAP, hữu cơ hoặc theo hướng hữu cơ.
Xác định không chạy theo sản lượng, ngay từ khi đi vào vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, xã Quảng Đức tập trung cải tạo giống, mở rộng diện tích chè VietGAP, chè hữu cơ, đồng thời đầu tư chế biến sâu. Hiện xã đã có khoảng 10ha chè theo chuẩn hữu cơ và khoảng 50ha chè theo hướng VietGAP. Cùng với đó, sự nở rộ của những mô hình sản xuất theo chuỗi, những tổ hợp tác, tổ liên kết trồng chè VietGAP, hữu cơ đã khiến cho kỳ vọng về vùng chè sạch Quảng Đức ngày càng hiện hữu. Bà Đào Thị Bính, một trong những người tiên phong trồng, chế biến chè hữu cơ ở thôn 5, xã Quảng Đức cho biết: Hiện tôi liên kết với 21 chị em trồng chè VietGAP để thu mua, chế biến. Sản phẩm làm ra được thị trường đánh giá cao, dễ bán, giá cao, khoảng 300-350.000 đồng/kg.
Thu nhập ổn định, người dân trồng chè Quảng Đức ngày càng gắn bó với cây chè, chủ động tìm tòi, nghiên cứu phương pháp trồng, chế biến sản phẩm chè sạch. Ông Bùi Văn Sinh, Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn 5, xã Quảng Đức phấn khởi nói: Khoảng 60% hộ dân trong thôn trồng chè, mỗi năm thu hoạch khoảng 8-9 tháng. Nhà nào ít được vài ba tạ, nhà nhiều có thể đạt đến cả tấn chè.
Có thể thấy Quảng Đức đang mở ra vùng sản xuất chè tập trung, phát triển vùng nguyên liệu chè rộng lớn. Quan trọng hơn là hướng đi trong xây dựng vùng nguyên liệu chè của Quảng Đức đang tiến tới sự phát triển bền vững, thiên về chất lượng hơn số lượng. Điều này được cho là mấu chốt để Quảng Đức không chỉ tránh rơi vào khủng hoảng thừa, thiếu cục bộ như đã từng thấy, mà ngược lại còn giúp Quảng Đức biến cây chè thành thương hiệu nông sản mạnh của mình, như khẳng định của ông Phan Văn Việt, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Đức.
Vùng nguyên liệu cần gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Theo báo cáo của Sở NN&MT, hiện toàn tỉnh đang có hơn 6.300ha trồng trọt tập trung, gần 10.000ha rừng sản xuất, 9 vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh và khoảng 4.700ha nuôi tôm công nghiệp. Những con số ấy không chỉ là diện tích mà là nền móng để nông sản Quảng Ninh nâng cao giá trị.
Hiện nay, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2026-2030, tỉnh Quảng Ninh đang xây dựng kế hoạch “Phát triển các vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Theo đó mục tiêu cụ thể là năm 2026, toàn tỉnh phấn đấu đạt trên 8.900ha diện tích vùng trồng trọt tập trung (gồm lúa, rau, hoa, cây ăn quả, hoa, cây cảnh, dong riềng, chè); đạt 2.334.000 con gia súc, gia cầm chăn nuôi tập trung (gồm bò, lợn, gia cầm), diện tích sản xuất cây trồng lâm nghiệp tập trung khoảng 9.980ha (gồm quế, hồi) và diện tích vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung khoảng 18.040 ha (gồm tôm, cá biển, nhuyễn thể và thuỷ sản nước ngọt). Sở NN&MT cũng đang tham mưu lộ trình và giải pháp cụ thể để nhanh chóng hiện thực hoá kế hoạch này.
Ông Trần Văn Thực, Phó chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở NN&MT Quảng Ninh cho biết: Hiện chính sách cụ thể về phát triển vùng nguyên liệu và sản xuất theo chuỗi đang được chỉnh sửa từ phía trung ương để phù hợp với vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Tỉnh Quảng Ninh một mặt đang chờ hướng dẫn cụ thể của trung ương, mặt khác chúng tôi cũng đang xây dựng và tham mưu cho tỉnh về chính sách đặc thù, phù hợp tình hình của Quảng Ninh, qua đó có thể thúc đẩy ngay các vùng nguyên liệu, các vùng sản xuất tập trung và sản xuất theo chuỗi của Quảng Ninh.
Thực tế phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, hình thành các vùng nguyên liệu để phục vụ chế biến và xuất khẩu nông sản là yêu cầu tất yếu để tạo ra những nông sản hàng hoá có thương hiệu mạnh, sức cạnh tranh cao và giá trị lớn, tuy nhiên quá trình triển khai thực tế sẽ đặt ra không ít thách thức. Một số chuyển động gần đây về việc chuyển đổi công nghệ canh tác hướng tới hiện đại có hàm lượng khoa học công nghệ cao hay việc áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, tạo ra những vùng nông sản VietGAP, hữu cơ xanh, sạch là đúng hướng, là cần thiết nhưng chưa đủ. Phát triển các vùng sản xuất tập trung còn cần phải gắn với chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh, chính là những sản phẩm nông nghiệp chủ lực hoặc là những nông sản OCOP.
Phát triển vùng nguyên liệu, “vùng lõi” của sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế không chỉ là câu chuyện của hôm nay mà là lời giải cho ngày mai của nông nghiệp bền vững. Khi vùng nguyên liệu được hình thành đúng nghĩa, khi sản xuất gắn với thị trường thì câu chuyện “được mùa, mất giá” có lẽ sẽ không còn lặp lại.
Phó Giám đốc Sở NN&MT Nguyễn Khắc Dũng: Đưa ra định hướng và tham mưu hành lang pháp lý để phát triển những vùng nguyên liệu phù hợp Đối với các hoạt động sản xuất, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, nguyên lý vận hành hiện nay là tạo những sản phẩm thị trường cần, chứ không phải là sản xuất và cung ứng những sản phẩm mình có. Quảng Ninh đã và đang có những vùng nguyên liệu nhất định, ở tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên bản thân những vùng nguyên liệu này cũng cần chuyển động, đổi mới, bắt kịp và đáp ứng xu thế phát triển của thị trường. Trong vai trò ngành chủ quản, Sở NN&MT đưa ra những định hướng và tham mưu hành lang pháp lý để phát triển những vùng nguyên liệu phù hợp. Cụ thể là trẻ hoá, công nghệ hoá, số hoá và thị trường hoá những vùng nguyên liệu đã có, đồng thời hình thành mới những vùng nguyên liệu mới gắn với những nông sản mới nhưng có dư địa phát triển, có lợi thế cạnh tranh. Đồng thời Sở NN&MT cùng với các đơn vị liên quan, các địa phương sẽ triển khai những mô hình điểm để nhân rộng trong nhân dân, hoặc đồng hành cùng chủ thể sản xuất nông nghiệp khơi thông những điểm nghẽn thuộc thẩm quyền nhằm thúc đẩy phát triển những vùng nguyên liệu nông sản theo đúng định hướng. |
Anh Trần Văn Quang (khu Đồng Mát, phường Hà An): Cần cấp mã vùng cho các vùng nguyên liệu nông sản Chúng tôi làm về sơ chế, chế biến ruột hàu Thái Bình Dương. Mặt hàng của chúng tôi hiện nay có nguồn cung từ những vùng nuôi trồng thuỷ sản trên biển của Quảng Ninh rất lớn và nhu cầu của thị trường cũng rất cao, tức là xét về mặt số lượng thì rất có lợi thế. Tuy nhiên về tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu lại đang có vấn đề, bởi phần lớn chưa được cấp mã vùng nuôi trồng, chưa thể truy xuất nguồn gốc, từ đó chưa thể xuất khẩu, hoặc xuất khẩu chính ngạch, tuỳ vào “hàng rào” kỹ thuật cao hay không cao mà nước nhập khẩu đưa ra. Về lâu về dài, việc nguyên liệu phải được nuôi trồng ở vùng được cấp mã, có thông số để truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tối thiểu và tất yếu. Chính bởi vậy chúng tôi rất mong muốn các đơn vị chức năng tháo gỡ “nút thắt” ở những vùng nguyên liệu nhuyễn thể, bao gồm con hàu Thái Bình Dương trên toàn tỉnh. Việc này quyết định sự phát triển bền vững không chỉ ở khâu nuôi trồng, mà còn là chế biến; là cơ sở cho những doanh nghiệp sơ chế, chế biến như chúng tôi tự tin đầu tư vào nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, thiết bị để vận hành một cách quy mô và bền vững. |
Giám đốc Công ty TNHH Hương Biển (cụm công nghiệp Cẩm Thịnh, phường Cửa Ông) Trần Văn Cung: Tăng cường phòng chống vi phạm IUU để có sản phẩm thuỷ sản khai thác đạt chuẩn Khoảng 3 tháng trở lại đây, gần như toàn bộ phần hoạt động xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản tươi sống của chúng tôi đang bị dừng lại. Trước đây chúng tôi lấy nguồn hàng trực tiếp từ các tàu khai thác thuỷ sản của Quảng Ninh, tuy nhiên nguồn hàng này ngày càng kham hiếm và cũng đã xuất hiện trường hợp khách hàng không chấp nhận sản phẩm của chúng tôi. Nguyên do là đã có những tàu cá vi phạm thẻ vàng của EC về chống khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, vì vậy sản phẩm khai thác của những tàu cá này không được chấp nhận. Chúng tôi rất mong tỉnh Quảng Ninh đẩy mạnh các biện pháp gỡ thẻ vàng EC, quản lý chặt tàu cá, cũng như gỡ khó cho các tàu cá vươn khơi bám biển đúng quy định. Tôi cho rằng, việc gỡ thẻ vàng của EC là nhiệm vụ khó khăn, nhưng Quảng Ninh buộc phải làm tốt, vừa là để thắt chặt công tác quản lý, hướng đến phát triển kinh tế thuỷ sản bền vững, vừa tạo thuận lợi cho những doanh nghiệp thương mại về sản phẩm thuỷ sản vận hành ổn định, hiệu quả. |