Tạo giá trị gia tăng từ rừng bằng khoa học, công nghệ

Giai đoạn 2026-2030, KHCN và đổi mới sáng tạo được xác định là một trong những động lực quan trọng để Quảng Ninh khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đồng thời tạo ra những giá trị mới cho nền kinh tế. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, thành phố đang hướng tới phát triển kinh tế dưới tán rừng, mở rộng vùng cây dược liệu, nâng cao giá trị gỗ và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ theo hướng chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển bền vững. Cùng với đó là yêu cầu đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, tăng cường liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân, tạo động lực thương mại hóa và nhân rộng các mô hình hiệu quả. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Ninh đã phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở KH&CN về vấn đề này.

anh-cuong-1602.jpg

- Xin ông cho biết, từ các định hướng nghiên cứu KHCN và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030, Sở KH&CN sẽ lựa chọn và ưu tiên những nhiệm vụ nào để giải quyết trực tiếp các vấn đề thực tiễn của Quảng Ninh, đặc biệt trong phát triển kinh tế dưới tán rừng, cây dược liệu và nâng cao giá trị các sản phẩm lâm nghiệp chủ lực?

+ Để giải quyết trực tiếp những vấn đề thực tiễn của Quảng Ninh, nhất là trong phát triển kinh tế dưới tán rừng, cây dược liệu và nâng cao giá trị các sản phẩm lâm nghiệp chủ lực, Sở KH&CN đã tham mưu UBND thành phố phê duyệt Đề án xây dựng Khu trình diễn, giới thiệu, chuyển giao mô hình thực nghiệm ứng dụng tiến bộ KHCN, lưu giữ nguồn gen theo Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 31/1/2026; đồng thời triển khai Chương trình KHCN và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 theo Quyết định số 1599/QĐ-UBND ngày 12/5/2026.

Trên cơ sở đó, Sở KH&CN xác định và ưu tiên một số nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, tiếp tục bảo tồn các nguồn dược liệu quý như đẳng sâm, hoàng đằng; nghiên cứu phát triển các vùng sản xuất lâm sản ngoài gỗ, đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp dược liệu; hoàn thiện quy trình sản xuất giống, trồng các loài cây có giá trị kinh tế cao; phát triển các loài cây bản địa có tiềm năng xuất khẩu như quế, hồi, chè, sở...

Cùng với đó, nghiên cứu xây dựng, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn trong hợp tác xã nông nghiệp theo định hướng tăng trưởng xanh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học và công nghệ chiết xuất hiện đại để khai thác, chế biến sâu các nguồn dược liệu đặc hữu trên cạn như trà hoa vàng, ba kích… Qua đó, từng bước chuyển hóa nguồn nguyên liệu thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như thuốc đông dược, mỹ phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

Mục tiêu là từng bước chuyển từ khai thác tài nguyên rừng theo hướng giá trị thấp sang tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đơn vị diện tích rừng; qua đó nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm lâm nghiệp của Quảng Ninh.

- Đối với những lĩnh vực có tiềm năng lớn như kinh tế dưới tán rừng, phát triển cây quế, cây dược liệu, trầm hương và chế biến gỗ, Sở KH&CN định hướng nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN như thế nào để khai thác hiệu quả tiềm năng, nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển bền vững, thưa ông?

+ Quảng Ninh có lợi thế rất lớn về rừng và các sản phẩm lâm nghiệp. Vì vậy, chúng tôi xác định KHCN và đổi mới sáng tạo phải trở thành đòn bẩy để chuyển lợi thế về tài nguyên rừng thành giá trị kinh tế cao hơn, nhưng phải đi đôi với bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

bqn_tr_tra-hoa-vang.jpg
Sản xuất chè hoa vàng tại HTX Dược liệu trà hoa vàng Ba Chẽ

Trước tiên là nghiên cứu bảo tồn, chọn tạo và phục tráng nguồn giống cây dược liệu chất lượng cao. Tiếp tục tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học (nuôi cấy mô - in vitro) để sản xuất giống quy mô hàng hóa đối với các loài dược liệu bản địa có giá trị kinh tế đặc biệt cao như trà hoa vàng (Ba Chẽ), ba kích tím, khôi tía và các dược liệu bản địa khác có giá trị cao. Chuẩn hóa chất lượng giống thông qua công nhận cây trội, xây dựng các vườn đầu dòng, khu lưu giữ nguồn gen quý và thiết lập quy trình kiểm định chất lượng giống sạch bệnh, có hàm lượng hoạt chất sinh học ổn định trước khi chuyển giao cho người dân trồng dưới tán rừng.

Tiếp đến là xây dựng chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong kinh tế rừng, dược liệu. Các nhiệm vụ được ưu tiên giải quyết bài toán theo chuỗi: Nguồn gen - giống - vùng nguyên liệu - sản xuất - chế biến - tiêu chuẩn hóa - sở hữu trí tuệ - thương mại hóa sản phẩm. Chuyển từ bán nguyên liệu sang chế biến sâu và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao thông qua ứng dụng, đổi mới công nghệ (chiết xuất hoạt chất, sấy và bảo quản, chế biến sâu, tiêu chuẩn hóa nguyên liệu, chế tạo thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm, dược liệu và các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên). Doanh nghiệp phải giữ vai trò trung tâm trong khâu đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất; viện, trường và các tổ chức KHCN là lực lượng cung cấp tri thức, công nghệ; người dân và hợp tác xã là chủ thể tham gia vùng nguyên liệu. Kết quả nhiệm vụ phải được đo lường bằng hiệu quả cụ thể đối với kinh tế - xã hội.

Cùng với đó là nâng cao giá trị gỗ rừng trồng và các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ. KHCN sẽ tập trung vào chọn tạo, cải thiện giống cây lâm nghiệp; nghiên cứu các mô hình rừng gỗ lớn, cây bản địa có giá trị kinh tế cao; ứng dụng công nghệ trong trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến gỗ. Đồng thời, nghiên cứu phát triển các sản phẩm từ nhựa thông, quế, hồi, sở, tre, nứa và các lâm sản ngoài gỗ khác. Một định hướng quan trọng là gắn nghiên cứu KHCN với tiêu chuẩn, chứng chỉ và thị trường, nhất là chứng chỉ quản lý rừng bền vững, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn phục vụ xuất khẩu. Đây là cách để chuyển lợi thế về diện tích rừng thành lợi thế về giá trị kinh tế.

Ngoài ra, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học trong quản lý và phát triển tài nguyên rừng, dược liệu. Xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn gen, vùng trồng và sản phẩm; ứng dụng viễn thám, GIS, cảm biến và các công nghệ số để giám sát rừng; truy xuất nguồn gốc vùng nguyên liệu; đồng thời từng bước ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu, dự báo sâu bệnh, năng suất và chất lượng nguyên liệu. Thử nghiệm hệ thống quản lý rừng thông minh gắn với truy xuất nguồn gốc (QR code, blockchain) từ vùng trồng dưới tán, đến sản phẩm cuối cùng, phục vụ cho việc minh bạch thông tin và xuất khẩu.

Đặc biệt, sẽ tiếp tục nghiên cứu phương án không chạy theo mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà là phát triển kinh tế dưới tán rừng phải dựa trên cơ sở khoa học, đúng quy hoạch, đúng đối tượng rừng và bảo đảm đa dạng sinh học. Mục tiêu cuối cùng là mỗi ha rừng không chỉ tạo ra gỗ, mà có thể tạo ra nhiều giá trị hơn từ dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, chế biến sâu, dịch vụ hệ sinh thái và sinh kế bền vững cho người dân.

- Ông có thể cho biết, Sở KH&CN sẽ có những giải pháp gì để tăng cường liên kết giữa cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp, người dân và địa phương để thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, cũng như trong đời sống một cách hiệu quả?

bqn_tr_nuoi-ong.jpg
Mô hình nuôi ong lấy mật của HTX Khai thác và chế biến mật ong Tiên Yên.

+ Để đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra đến từng cánh rừng, nhà xưởng và tạo ra giá trị kinh tế thực tế, Sở KH&CN xác định liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) là giải pháp mang tính quyết định. Đến năm 2030, Sở sẽ tập trung triển khai một số giải pháp đột phá là cơ cấu lại phương thức đặt hàng nhiệm vụ KHCN theo hướng lấy thực tiễn sản xuất làm điểm xuất phát. Ưu tiên các bài toán do doanh nghiệp, hợp tác xã và UBND các địa phương trực tiếp đặt ra, nhất là những vấn đề đang là điểm nghẽn về giống, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ.

Sở sẽ kết nối với các viện, trường, chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ để cùng giải quyết bài toán nói trên. Mục tiêu là mỗi nhiệm vụ KHCN phải có địa chỉ ứng dụng, có sản phẩm đầu ra và có khả năng tạo ra giá trị thực tế; qua đó rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu, đến sản xuất và thương mại hóa.

Cùng với đổi mới phương thức đặt hàng, chúng tôi sẽ nghiên cứu xây dựng cơ chế đối ứng tài chính, khuyến khích doanh nghiệp cùng tham gia đầu tư khoảng 30-50% kinh phí đối với những nhiệm vụ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò vốn mồi, còn doanh nghiệp cùng chia sẻ nguồn lực, rủi ro và lợi ích. Qua đó vừa huy động thêm nguồn lực xã hội cho KHCN và đổi mới sáng tạo, vừa tạo ra "bộ lọc" để lựa chọn những nhiệm vụ thực sự xuất phát từ nhu cầu thị trường, có khả năng đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

Tập trung hoàn thiện Sàn giao dịch công nghệ và nền tảng kết nối số để thực sự trở thành "địa chỉ gặp nhau" giữa doanh nghiệp và nhà khoa học: Doanh nghiệp đưa ra bài toán; kết nối đúng chuyên gia, đúng công nghệ để giải quyết; đồng thời số hóa cơ sở dữ liệu để những công nghệ đã được kiểm chứng có thể nhanh chóng chuyển giao và nhân rộng trong sản xuất.

Triển khai tốt Chương trình phối hợp đã ký kết nhằm quy tụ các nhà khoa học hàng đầu từ các viện nghiên cứu, trường đại học lớn để sẵn sàng tư vấn, "bắt bệnh" và chuyển giao kỹ thuật cho Quảng Ninh. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tài chính và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Đơn giản hóa quy trình, thủ tục đối với triển khai các nhiệm vụ KHCN và đổi mới sáng tạo, giúp các nhà khoa học và doanh nghiệp tập trung tối đa thời gian vào chuyên môn chuyên sâu. Triển khai tốt hành lang pháp lý bảo vệ các nhà khoa học chân chính, dám nghĩ, dám làm, tạo môi trường cởi mở để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

- Xin cảm ơn ông!

Thu Trang (Thực hiện)

Có thể bạn quan tâm