Nông thôn hiện đại trong tầm tay - Bài 1: Tăng gấp 3 thu nhập nông thôn - Khát vọng và hành động

Giai đoạn 2011 – 2025 được coi là giai đoạn 1 toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM). Trong cả quá trình này, Quảng Ninh đã huy động 146.000 tỷ đồng để thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí đề ra. Thành quả của sự đầu tư mạnh mẽ ấy là hạ tầng nông thôn hoàn thiện, diện mạo nông thôn đổi mới, sản xuất nông nghiệp phát triển, thu nhập người dân vùng nông thôn tăng cao. Quảng Ninh về đích sớm 3 năm về mục tiêu giảm nghèo bền vững; về đích sớm 2 năm về địa phương được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM.

Bước vào xây dựng NTM giai đoạn 2026 – 2030, kế thừa những thành tựu đã đạt được của giai đoạn trước, cũng như đón nhận thời cơ mới, tư duy mới của một thành phố trẻ năng động, Quảng Ninh tự tin đặt ra cho mình những mục tiêu mang tính đột phá, một trong số đó là nâng cao mức thu nhập người dân vùng nông thôn.

Tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 – 2030, Quảng Ninh đặt ra mục tiêu năm 2030 thu nhập người dân khu vực nông thôn tăng gấp 3 lần năm 2020 (43,7 triệu đồng). Thời điểm hiện nay, thành phố Quảng Ninh đang tính tới con số phấn đấu đưa mức thu nhập người dân nông thôn đến năm 2030 lên 200 triệu đồng/người/năm.

Vùng đồi núi phía Bắc trở thành trọng lực kinh tế

Phát biểu gần đây của đồng chí Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Văn Công cho thấy, mục tiêu đến năm 2030 của Quảng Ninh về thu nhập người dân khu vực nông thôn tăng gấp 3 lần năm 2020 (43,7 triệu đồng), thậm chí đạt 200 triệu đồng/người/năm là con số rất cao, cho thấy quyết tâm cao độ của Quảng Ninh biến mục tiêu này có tính khả thi.

Thực tế tại một hội nghị năm 2023, Quảng Ninh từng đặt mục tiêu đến năm 2025, thu nhập bình quân/năm của người dân khu vực nông thôn đạt trên 5.000 USD và tới năm 2030 là đạt khoảng 8.000 - 10.000 USD. Hiện Quảng Ninh chưa có con số công bố chính thức của thống kê về thu nhập người dân nông thôn năm 2025, tuy nhiên theo tính toán của ngành nông nghiệp, con số này đang ở mức gần 100 triệu đồng/người/năm. Cùng với đó, Quảng Ninh đã ấn định chỉ tiêu đến năm 2030 thu nhập bình quân đầu người toàn địa bàn là 20.000 USD, gần gấp đôi so với thời điểm hiện nay, trên 11.000 USD. Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Văn Công cho rằng: Điều này đồng nghĩa việc khi nền kinh tế thành phố tăng trưởng, thu nhập người dân nói chung tăng, sẽ có mối liên hệ đáng kể với tăng trưởng và thu nhập của các vùng nông thôn, bởi muốn đạt mục tiêu tăng trưởng chung thì các khu vực của Quảng Ninh đều phải tăng trưởng.

thanh-cong.jpg
Tuyến đường 327 nối Cổng Tỉnh qua An Sinh, Ngoạ Vân xuống Bình Khê đang được thi công tập trung. Ảnh: Thành Công

Đồng quan điểm trên, ông Nghiêm Xuân Cường, Phó Chủ tịch HĐND thành phố cho rằng: Quan trọng là hiện Quảng Ninh đã và đang tiếp tục triển khai loạt các giải pháp phát triển KTXH mang tính đột phá để tạo ra dư địa, nền tảng, động lực phát triển, trong đó có việc lấy khu vực đồi núi phía Bắc là một trong 3 hành lang phát triển. Điều này cho phép loạt các xã, thôn, các địa bàn dân cư nông thôn, miền núi, biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số thêm cơ hội phát triển.

Có thể thấy, tại Quyết định điều chỉnh Quy hoạch Quảng Ninh của UBND thành phố công bố tháng 6 vừa qua cho thấy cách phân bổ không gian phát triển của Quảng Ninh đã chú trọng khu vực nông thôn. Nếu như trước đây, mô hình phát triển của Quảng Ninh là “Một tâm - Hai tuyến - Đa chiều - Hai mũi đột phá - Ba vùng động lực”, thì nay theo cấu trúc 3 hành lang phát triển - 4 vùng kinh tế xã hội - 5 trung tâm động lực phát triển. Trong đó, 3 hành lang phát triển là hành lang đô thị ven biển, hành lang biển đảo và hành lang sinh thái đồi núi phía Bắc. Ông Nghiêm Xuân Cường, Phó Chủ tịch HĐND thành phố Quảng Ninh, khẳng định: Điều này là có ý nghĩa, cho thấy Quảng Ninh tiếp tục nhìn nhận vùng đồi núi phía Bắc, cũng chính là khu vực địa bàn nông thôn, miền núi và dân tộc thiểu số là một trọng lực kinh tế. Khi hành lang này được đầu tư, được phát huy tác dụng, toàn bộ địa bàn trong hành lang sẽ có dư địa phát triển.

Thực tế ngay từ sớm, Quảng Ninh đã có sự chuẩn bị cho việc hình thành và đi vào vận hành hành lang sinh thái đồi núi phía Bắc, trong đó giao thông được xác định là yếu tố đi trước. Trong khoảng 5 năm gần đây, Quảng Ninh đã từng bước đầu tư các tuyến đường nhằm tạo nên trục kết nối giữa các xã, thôn trong hành lang với nhau và kết nối hành lang sinh thái đồi núi phía Bắc với hành lang đô thị ven biển, kết nối với các trục giao thông huyết mạch của thành phố và khu vực.

trai-me-son-duong-thanh-cong.jpg
Tuyến đường nối tỉnh lộ 342 đến QL279 qua trung tâm Sơn Dương (điểm đầu tại Trại Me, điểm cuối tại thôn Đồng Đặng) góp phần hoàn thiện hạ tầng giao thông các phường, xã khu vực miền núi. Ảnh: Thành Công

Có thể kể đến tuyến đường 327 đang được tập trung thi công, nối Cổng Tỉnh qua An Sinh, Ngoạ Vân xuống Bình Khê, từ đó nối Yên Tử - Vàng Danh đến Quảng La; một phần tuyến đường 279; tuyến đường nối tỉnh lộ 342 đến QL279 qua trung tâm Sơn Dương; tuyến đường biên giới Hải Sơn - Hoành Mô – Móng Cái; con đường tỉnh 342 nối khu vực Hạ Long với Ba Chẽ và tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành một nửa; đường Sơn Dương lên Đồng Sơn đã xong; đoạn Đạp Thanh đi Kỳ Thượng đã được Quảng Ninh đưa vào chương trình đầu tư… Tới đây sẽ là những tuyến đường kết nối Lương Minh, Kỳ Thượng, Điền Xá, Bình Liêu… sẽ được đưa vào chương trình đầu tư sẽ thêm phần trục giao thông mới kết nối hành lang đồi núi phía Bắc. Phó Giám đốc Sở Xây dựng, ông Trương Hoàng Quang khẳng định: Phần lớn các tuyến đường đều được quy hoạch thiết kế 4 - 8 làn xe, đã và đang được thi công tập trung, đảm bảo về tiến độ, chất lượng, qua đó sẽ góp phần hoàn chỉnh trục giao thông mới kết nối hành lang đồi núi phía Bắc, tạo động lực phát triển cho khu vực này.

Cùng lúc tiếp cận nhiều dư địa phát triển mới

Triển vọng nâng cao thu nhập của vùng nông thôn Quảng Ninh giai đoạn 2026 – 2030 còn đang đến từ những dư địa phát triển mới, ví như việc hình thành các cụm công nghiệp (CCN), việc phát triển du lịch rừng theo Nghị định số 91/2024/NĐ-CP của Chính phủ và sự đổi mới trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.

Theo quy hoạch, đến năm 2030 Quảng Ninh có 36 CCN, hiện đã hình thành 20 CCN, bao gồm các CCN tại các xã. Riêng từ đầu năm đến nay, Quảng Ninh có thêm các CCN Thanh Lâm 1 (xã Kỳ Thượng), Quảng Thành, Quảng Đức (xã Quảng Đức) CCN phía Tây Đầm Hà A (xã Quảng Tân), CCN Hoành Bồ 1 (xã Thống Nhất)… Bước đi này không chỉ tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư, thúc đẩy khối kinh tế tư nhân, mà còn giải quyết dứt điểm tình trạng sản xuất manh mún, phân tán, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nền sản xuất lớn khu vực nông thôn, kéo theo đó là nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn.

bqn_tl_1791391231451-1584671167053188786-5939033793570217764-n.jpg
Khởi công CCN Hoành Bồ 1, xã Thống Nhất. Ảnh: Thu Chung

Về Chương trình mục tiêu quốc gia, bà Nguyễn Chi Mai, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường), cho biết: Trong khi khoá trước chúng ta có 3 chương trình mục tiêu quốc gia khác nhau, là về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì đầu năm 2026 này, 3 chương trình đã chính thức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất gộp lại làm một, thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Và Quảng Ninh đã kịp thời bố trí 9.785 tỷ đồng ngân sách để thực hiện chương trình giai đoạn 2026 – 2030, trong đó 9.000 tỷ đồng là vốn đầu tư công và 785 tỷ đồng chi thường xuyên. Đây được coi là nguồn lực rất lớn dành cho khu vực nông thôn, miền núi phát triển, trong đó ngay đầu năm 2026, thành phố bố trí 2.400 tỷ đồng để phân bổ về cho các xã.

Đến ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 trên cơ sở tích hợp Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với 3 chương trình mục tiêu quốc gia khác. Như vậy, chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay bao gồm 6 lĩnh vực: Nông thôn mới, giảm nghèo, dân tộc thiểu số, văn hoá, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ, đồng nghĩa với việc nguồn lực Quảng Ninh dành cho chương trình giai đoạn 2026 – 2030 sẽ không chỉ là 9.785 tỷ đồng, mà còn có thể được tính toán để bổ sung thêm. Điều này hứa hẹn có thêm nguồn lực cho vùng nông thôn, đồng thời cách tiếp cận nông thôn sẽ không chỉ là ở góc độ hạ tầng, thu nhập, cảnh quan, diện mạo… mà là mức độ hưởng thụ văn hoá, giáo dục, việc chuẩn bị nguồn nhân lực và công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân…

Riêng đối với Nghị định số 91/2024/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lâm nghiệp có hiệu lực từ ngày 18/7/2024 được cho là cơ hội của các xã, thôn miền núi phát triển kinh tế dưới tán rừng, trong đó bao gồm mảng du lịch rừng. Ông Nguyễn Văn Bông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm phân tích: Nghị định này cho phép dành tối đa 5% diện tích rừng đã thuê môi trường rừng để xây dựng công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, đồng nghĩa tăng sức hút đầu tư về du lịch rừng ở Quảng Ninh.

bqn_bl_1791392089600-1584671167053188786-5939033793570217764-n.jpg
Vạt rừng hồi vừa được công nhận là Cây Di sản ở xã Hoành Mô.

Thực tế, phần lớn dân cư khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số đang là chủ diện tích hơn 320.000 ha đất có rừng, trong đó không thiếu những sinh cảnh rừng đa dạng sinh học, tươi đẹp, hài hoà, nhiều cây, con quý, có tính đặc hữu. Quan trọng là rừng Quảng Ninh gần biển và không mâu thuẫn với du lịch biển, hệ thống giao thông thuận lợi của Quảng Ninh lại càng đẩy những yếu tố này thành lợi thế, cho phép hình thành những tour du lịch mà du khách trải nghiệm cả lên rừng xuống biển. Và câu chuyện du lịch rừng nếu nhiều năm qua chưa được khai thác đúng mức thì nay được cho là sẽ khác; sẽ được phát triển rộng mở, kéo theo sinh kế, việc làm và thu nhập cho người dân trong khu vực.

Một động thái mới sẽ tác động đến thu nhập vùng nông thôn, đó là chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi thành phố Quảng Ninh giai đoạn 2026 – 2030 đang được Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu UBND thành phố ban hành và cho áp dụng giai đoạn 2027 - 2030. Bà Nguyễn Chi Mai, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thông tin: Tính mới của chính sách này là cơ chế hỗ trợ đặc thù cho sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ lực, với mức hỗ trợ được cho vượt trội, chưa có tiền lệ. Ví như việc hỗ trợ một phần tiền trồng rừng thay thế, hỗ trợ một phần phí giao khu vực biển hay hỗ trợ tiếp cận tín dụng với lãi suất ưu đãi… Và như vậy, sản xuất nông nghiệp trên toàn địa bàn thành phố, trọng tâm là các xã, thôn sẽ có hành lang pháp lý mạnh mẽ để phát triển đột phá.

bqn_bl_1791039798960-1584671167053188786-5939033793570217764-h.jpg
Cây chè là một trong số những cây trồng chủ lực của Quảng Ninh hiện đang được người dân xã Quảng Đức canh tác hiệu quả.

Lộ trình xây dựng NTM giai đoạn 2026 – 2030 của Quảng Ninh đang bước những bước đi đầu tiên và hứa hẹn tạo ra những thành quả mới. Ông Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, khi vùng nông thôn miền núi được nhìn nhận như một cực tăng trưởng, khi những dư địa mới được khai mở, khi chính sách mới được triển khai, thì hoạt động sản xuất, chế biến nông sản và phát triển các vùng nông nghiệp, nông thôn chủ lực, trọng điểm sẽ chuyển động nhanh, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sẽ tăng mạnh, cơ cấu kinh tế nông nghiệp thay đổi, các vùng nông thôn miền núi sẽ giàu mạnh, đặc biệt mức thu nhập của người dân vùng nông thôn cũng từ đó mà tăng cao, thậm chí tăng ở mức đột phá. Đây là lời giải của Quảng Ninh về bài toán tăng mức thu nhập người dân khu vực nông thôn năm 2030 gấp 3 lần năm 2020, xa hơn là đạt 200 triệu đồng/người/năm.

Bài 2: Khai mở những tiềm năng mới

Việt Hoa

Có thể bạn quan tâm