90 NĂM TRUYỀN THỐNG CÔNG NHÂN VÙNG MỎ - TRUYỀN THỐNG NGÀNH THAN:

Một thế hệ thợ mỏ đi qua chiến tranh

Với những thành tích trong chống Mỹ cứu nước, năm 1975, cựu binh đoàn than Lưu Văn Quý đã được tăng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba.
Với những thành tích trong chống Mỹ cứu nước, năm 1975, cựu binh đoàn than Lưu Văn Quý đã được tăng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba.

Từ những tầng than sâu trong lòng đất đến những chiến trường khốc liệt, những người thợ mỏ năm xưa đã mang theo bản lĩnh, ý chí và tình yêu quê hương lên đường chiến đấu. Người ra trận cầm súng bảo vệ Tổ quốc, người ở lại vừa sản xuất, vừa chiến đấu giữ mỏ, giữ nhà máy, giữ nhịp sống Vùng mỏ. Trong những năm tháng ấy, một thế hệ thợ mỏ đã viết nên câu chuyện đặc biệt về những người công nhân “vừa sản xuất, vừa chiến đấu”, góp phần làm nên ngày đất nước thống nhất.

Từ tầng than đến chiến trường

26424-bdthan-1.jpg
Chiến sĩ Binh đoàn Than trước giờ lên đường vào Nam. Ảnh của cố NSNA Quang Sơn.

Năm 1967, trước sự leo thang bắn phá ác liệt miền Bắc nước ta của đế quốc Mỹ, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, chúng ta cũng quyết giành cho được tự do và độc lập”. Thực hiện lời kêu gọi của Bác, chỉ trong 4 ngày, từ 27/7/1967-30/7/1967, hơn 2.000 thanh niên, công nhân ưu tú ngành Than đã hăng hái làm đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ.

Ngành Than đã huy động, tuyển chọn gần 2.000 thợ mỏ và một số đơn vị khác được tập hợp thành 3 tiểu đoàn, gồm: Tiểu đoàn 385; Tiểu đoàn 386 và Tiểu đoàn 9. Trong đó tất cả các thành viên của Tiểu đoàn 385 và Tiểu đoàn 386 đều là thợ mỏ ở khu vực Hòn Gai và Cẩm Phả với khoảng 1.100 người. Tiểu đoàn 9 là tập hợp quân số của nhiều ngành nghề với khoảng 900 người. Đây là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử ngành Than. Bởi những người lên đường ngày ấy không phải những người lính đã được chuẩn bị từ trước. Họ là những công nhân đang làm việc ở các mỏ than Hòn Gai, Cẩm Phả, những người quen với tiếng máy, tiếng búa, với những tầng than sâu và những công trường đầy bụi. Họ tạm rời công việc, gia đình và Vùng mỏ để nhận một nhiệm vụ khác, đó là trở thành những người lính trên chiến trường miền Nam. Cái tên “Binh đoàn Than” dù không phải phiên hiệu chính thức trong quân đội, nhưng đã được đặt chung cho lực lượng này.

bat822425co-mot-binh-doan-than-huyen-thoai4.jpg
Cựu chiến binh Bùi Duy Thinh, Trưởng Ban liên lạc Binh đoàn Than trò chuyện với phóng viên Báo và PTTH Quảng Ninh về những tháng ngày chiến đấu anh dũng, hào hùng của những người lính Binh đoàn Than.

Ngày 30/7/1967, Binh đoàn Than chính thức làm lễ xuất quân lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam và trở thành đợt xung phong tòng quân lớn nhất của Quảng Ninh khi ấy. Sau 45 ngày đêm vượt qua những chặng đường gian nan, đơn vị tập kết tại chiến trường B5, kịp tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968. Trong cuốn nhật ký của mình, cựu chiến binh Nguyễn Bá Sơn (chiến sĩ Tiểu đoàn 9, nguyên chính trị viên tiểu đoàn 406) đã từng viết: “Dù giặc Mỹ có mang cả bom nguyên tử vào đây cũng sẽ không ngăn nổi bước chân của những người thợ mỏ”.

Ở những trận đánh đầu tiên, lực lượng này tham gia đánh chiếm các điểm cao 689, 845, 833, cắt đường số 9, tạo điều kiện cho các đơn vị tiến lên làm chủ những vị trí chiến lược. Tổng kết chiến dịch xuân Mậu Thân năm 1968, Binh đoàn Than đã góp sức cùng toàn quân và dân miền Nam tiêu diệt 20 vạn tên địch, trong đó có 7 vạn tên Mỹ, phá hủy 3.400 máy bay, 500 xe quân sự, 4.000 khẩu pháo các loại, giải phóng cho 16 vạn dân và mở rộng vùng căn cứ cách mạng.

Cựu chiến binh Bùi Duy Thinh, Trưởng Ban liên lạc Binh đoàn Than, cho biết: Sau tổng tiến công Mậu Thân 1968, những chiến sĩ Binh đoàn Than vốn là quân công nghiệp, có tính kỷ luật cao nên được chia ra bổ sung cho các chiến trường ác liệt ở miền Nam. Họ tham gia rất nhiều trận đánh lớn ở Tây Nguyên, Đắc Uy, Tân Cảnh… Tất cả đã khiến cho cái tên Binh đoàn Than ngày càng lừng danh và làm kẻ thủ không khỏi khiếp sợ. Nhưng không ít người trong số họ đã nằm lại chiến trường.

1790131356932-272023510162780068-623744950442968517-896c2a3296081b04a5c2db4dcb9f8380.jpg
Những giấy chứng nhận thời gian công tác, quyết định vào Đảng... được cựu binh Binh đoàn Than Lưu Văn Quý gìn giữ trong suốt nhiều năm qua.

Hiện nay theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì Binh đoàn Than có trên 1.000 cán bộ chiến sĩ hy sinh và gần 400 người bị thương. Hầu hết những người trở về đều mang thương tật, bị nhiễm chất độc màu da cam hoặc bệnh hiểm nghèo. Nhưng dù cơ thể mang thương tật, nhiều người trong số họ vẫn mạnh mẽ, lạc quan để tiếp tục cống hiến cho quê hương. Trưởng Ban Liên lạc Binh đoàn khu vực TP Hạ Long (cũ) đã kể cho chúng tôi nghe về quá trình xây dựng và trưởng thành của đơn vị mình...

Với CCB Lưu Văn Quý (tổ 2, khu Hồng Hải 6, phường Hạ Long), Trưởng Ban Liên lạc Binh đoàn Than khu vực TP Hạ Long (cũ), những năm tháng cùng đồng đội chiến đấu trên chiến trường miền Nam là ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời. Sinh năm 1947 tại TX Hòn Gai, năm 1967, khi đang là công nhân Mỏ than Hà Tu, chàng trai trẻ Lưu Văn Quý lên đường nhập ngũ, trở thành một chiến sĩ của Binh đoàn Than.

Sau hơn 4 tháng huấn luyện tại Hòa Bình, ông cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào Long An. Ngày 26/6/1968, ông tham gia trận đánh đầu tiên. Cũng trong trận chiến ấy, ông bị thương nặng khi một mảnh đạn găm vào đầu, khiến ông bất tỉnh giữa trận địa. Khi tỉnh lại, trời đã tối, xung quanh là tiếng quân địch đang lùng sục. Trong tình thế hiểm nguy, hai đồng đội đã ở lại, dìu ông vượt khỏi vòng vây, đưa ra khỏi khu vực chiến đấu. Sau khi tạm bình phục, với thương tật 2/4, ông được bố trí về Đoàn 281, Phân khu 3, thuộc địa bàn Nam Long An, làm nhiệm vụ sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu. Đầu năm 1970, do sức khỏe ngày càng giảm sút, ông được đưa ra Bắc điều trị.

Trở về hậu phương không có nghĩa là rời xa Vùng mỏ. Mảnh đạn còn nằm trong đầu khiến tay trái và chân trái yếu đi, nhưng nhận thấy bản thân vẫn có thể tiếp tục lao động, năm 1971, ông xin trở lại Mỏ Hà Tu, làm công nhân sửa chữa ô tô. “Được may mắn sống sót và trở về, được tiếp tục cống hiến cho quê hương, cho ngành Than, tôi vui lắm”, ông Quý chia sẻ.

1790131358341-272023510162780068-623744950442968517-bc816121591ac14ddcdeb4430c9b5d0f.jpg
Với những thành tích trong chống Mỹ cứu nước, năm 1975, cựu binh đoàn than Lưu Văn Quý đã được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba.

Với sự đam mê, chăm chỉ và nghiêm túc trong công việc, năm 1982, ông được lãnh đạo tin tưởng bổ nhiệm làm Bí thư Đoàn thanh niên, tiếp đó là Phó ngành ăn của mỏ, Phó quản đốc mỏ, rồi đội trưởng đội xe và làm quản đốc phân xưởng xe 2 cho đến khi về hưu năm 2004. Trong suốt năm tháng lao động, phát huy tinh thần của một người lính Binh đoàn Than, ông Quý nhiều lần được công nhận chiến sĩ thi đua nhờ hoàn thành nhiệm vụ và có sáng kiến cải tiến kỹ thuật.

Từ người thợ mỏ khoác áo lính đến người thương binh trở lại với công trường, hành trình của ông Lưu Văn Quý cũng là câu chuyện của một thế hệ người Vùng mỏ đã đi qua chiến tranh bằng lòng quả cảm, rồi trở về tiếp tục góp sức dựng xây quê hương.

Những người ở lại giữ mỏ

0.jpg
Đại đội tự vệ Nhà sàng Cửa Ông - đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nếu Binh đoàn Than là dấu ấn nổi bật nhất của những người thợ mỏ trực tiếp ra trận, thì phía sau họ là hàng vạn công nhân vẫn ngày ngày bám mỏ, bám máy, giữ cho dòng than không ngừng chảy trong những năm tháng bom đạn ác liệt.

Từ năm 1964, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, Quảng Ninh trở thành một trong những địa bàn trọng điểm bị đánh phá. Từ ngày 5/8/1964 đến 30/12/1972, Quảng Ninh phải hứng chịu 2.340 trận đánh với 28.531 quả bom, mìn, thủy lôi các loại, tổng trọng lượng khoảng 9.680 tấn; riêng 6 tháng cuối năm 1972 có tới 603 trận đánh, 34 nhà máy bị đánh phá. Trong hoàn cảnh ấy, với người thợ mỏ, sản xuất không còn là một nhiệm vụ kinh tế đơn thuần. Mỗi tấn than làm ra đều gắn với yêu cầu duy trì sản xuất, bảo đảm năng lượng cho hậu phương miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến.

Giai đoạn năm 1965-1972, Cửa Ông là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Nhà sàng Cửa Ông (nay là Công ty Tuyển than Cửa Ông - TKV), nằm trên tuyến vận chuyển than quan trọng ra cảng, liên tục trở thành mục tiêu của bom đạn. Năm 1965, sản lượng than sạch của Cửa Ông đạt trên 2,4 triệu tấn. Cũng trong năm này, đơn vị xây dựng Đại đội tự vệ gồm 137 chiến sĩ, được trang bị súng 12,7mm, súng 14,5mm cùng các loại trung liên, tiểu liên, súng trường để phối hợp với bộ đội địa phương bảo vệ nhà máy, bến cảng và nhân dân.

1de5b75f-c546-4893-8fc2-894f20222744.png
Bà Nguyễn Thị Gái - một trong những nữ tự vệ đầu tiên của Nhà sàng Cửa Ông (nay là Công ty Tuyển than Cửa Ông - TKV).

Trong ký ức của bà Nguyễn Thị Gái, một trong những nữ tự vệ đầu tiên của Nhà sàng Cửa Ông, những năm tháng vừa sản xuất, vừa chiến đấu vẫn vẹn nguyên như ngày đầu. Năm 1966, khi mới 16 tuổi, bà vừa là công nhân, vừa tham gia lực lượng tự vệ. Đại đội của bà có nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị pháo 37mm của bộ đội địa phương bảo vệ vùng trời Cửa Ông.

“Là thanh niên tự vệ, trong chiến đấu cũng như trong sản xuất luôn phải đi đầu”, bà Gái nhớ lại. Khi không có báo động, bà cùng những nữ thanh niên khác đảm nhận vận hành máy ở tầng trên cùng của Nhà sàng. Mỗi khi có báo động, máy phải dừng, bà lại là người xuống cuối cùng để nhường những công nhân lớn tuổi hơn chạy xuống trước. Có thời điểm, bà cùng đồng đội thường trực chiến đấu tại các trận địa pháo, theo giao thông hào tiếp tế, hỗ trợ bộ đội trên đồi Đoan, đồi 105, đồi Nhà sàng.

Câu chuyện của bà Gái cũng là một lát cắt trong bức tranh chung về những người thợ Nhà sàng Cửa Ông thời chiến - những con người vừa bám máy, bám mỏ, vừa cầm súng bảo vệ nơi sản xuất. Đó là Phạm Văn Hùng, người tự nguyện làm pháo thủ và hy sinh trong khi chiến đấu bảo vệ Nhà sàng; là Tiểu đội Công binh 16 chiến sĩ do ông Đoàn Văn Lầy làm Tiểu đội trưởng, bám trụ tại Cầu 20 để bảo vệ tuyến vận tải than; là bà Lê Thị Thìn, Chiến sĩ Thi đua toàn quốc đầu tiên của Xí nghiệp; hay nữ y tá Trần Thị Ánh Tuyết, người thường xuyên có mặt tại những trọng điểm bị đánh phá để kịp thời cứu chữa công nhân bị thương. Nhà sàng Cửa Ông vì thế trở thành một trong những biểu tượng tiêu biểu cho tinh thần “vừa sản xuất, vừa chiến đấu” của người thợ mỏ trong những năm tháng chiến tranh.

Theo tư liệu của thành phố, lực lượng tự vệ tại Nhà sàng Cửa Ông đã tham gia hơn 100 trận chiến đấu, phối hợp với các lực lượng vũ trang bắn rơi máy bay Mỹ. Trong những năm chiến tranh, 115 công nhân cùng 172 người là con em công nhân Xí nghiệp đã lên đường vào Nam chiến đấu; 47 người đã hy sinh, 81 người để lại một phần xương máu nơi chiến trường.

Nhìn lại những năm tháng ấy, ông Đoàn Kiển, nguyên Tổng Giám đốc Tổng công ty Than Việt Nam, từng xúc động nhận định: “Những chiến sĩ tự vệ Nhà sàng Cửa Ông không chỉ chiến đấu như những người lính thực thụ, mà còn sản xuất như những người thợ thực thụ”. Chính từ sự kiên cường ấy, Nhà sàng Cửa Ông đã trở thành một “pháo đài” giữa thời chiến, nơi bom đạn không thể khuất phục ý chí của những người thợ mỏ.

2348230-tv1-11232606.jpg
Tự vệ ngành Than tháo kíp một quả bom do máy bay Mỹ thả xuống Hòn Gai. Ảnh tư liệu

Không chỉ Nhà sàng Cửa Ông, mà các mỏ than Hà Tu, Đèo Nai, Cọc 6, Uông Bí, Đông Triều, Cẩm Phả… đều là những mục tiêu đánh phá ác liệt, nhà máy, xí nghiệp, hầm lò bị đánh phá. Trong hoàn cảnh ấy, hàng nghìn công nhân thợ mỏ vẫn bám tầng, bám lò, bám công trường, vừa sản xuất, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Từ Đông Triều, Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông đến Hà Tu, Đèo Nai… những mỏ than, nhà máy, xưởng máy đều trở thành những trận địa đặc biệt và là nơi ghi dấu chiến công của những người thợ mỏ.

Nhìn lại những năm tháng chiến tranh đã qua, dấu ấn của những người thợ mỏ không chỉ được ghi bằng những tấn than được khai thác giữa bom đạn, những trận đánh của lực lượng tự vệ hay những bước chân của Binh đoàn Than trên các chiến trường. Thời điểm ấy, giữa người thợ và người lính gần như không có một ranh giới rõ ràng. Bởi dù ở trận địa hay công trường, họ đều chung một mục tiêu lớn lao, đó là giữ mỏ, giữ sản xuất, giữ hậu phương và góp sức cho ngày đất nước thống nhất. Từ người thợ thành người lính, từ người lính trở lại thành người thợ, những con người ấy đã nối liền hai mặt trận bằng chính sức lao động, lòng quả cảm và trách nhiệm với quê hương.

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua. Những tầng than năm xưa đã đổi thay, nhiều nhà máy, công trường cũng đã mang diện mạo mới. Nhưng câu chuyện của một thế hệ thợ mỏ trong chiến tranh vẫn còn nguyên giá trị. Đó không chỉ là ký ức để nhớ về một thời gian khó, mà còn là một phần làm nên bản lĩnh, truyền thống và niềm tự hào của Vùng mỏ hôm nay.

Hoàng Nga

Có thể bạn quan tâm