Tác phẩm tham gia Giải Báo chí về xây dựng Đảng (giải Búa Liềm vàng Quảng Ninh lần thứ VII – 2026)

Một đời theo Đảng, trọn niềm tin - Bài 2: Giữ "lửa" trong hành trình phát triển mới

Nếu chiến tranh giúp người lính hiểu giá trị của độc lập, hòa bình thì những năm tháng sau chiến tranh lại giúp nhìn rõ hơn những đổi thay của đất nước. Ở tuổi ngoài tám mươi, cựu chiến binh Phạm Hùng Vỹ cho rằng niềm tin không thể được duy trì bằng việc né tránh hạn chế, khuyết điểm, mà phải được củng cố bằng thực tiễn, bằng sự đổi mới và bằng những hành động cụ thể của cán bộ, đảng viên trong cuộc sống hôm nay.

Niềm tin được kiểm chứng bằng sự đổi thay của đất nước

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi từng nghĩ rằng điều khó khăn nhất đã qua. Nhưng thực tế không phải như vậy. Chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào hòa bình với vô vàn khó khăn. Cơ sở vật chất bị tàn phá, nền kinh tế còn lạc hậu, đời sống nhân dân thiếu thốn. Những người từng trải qua chiến tranh như chúng tôi hiểu rất rõ cái giá của sự nghèo khó sau nhiều năm bom đạn.

Bởi vậy, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, tôi đặc biệt quan tâm đến những thay đổi trong tư duy phát triển.

Đại hội VI của Đảng năm 1986 là một dấu mốc quan trọng, mở ra công cuộc đổi mới toàn diện. Với tôi, đổi mới không phải là từ bỏ những mục tiêu đã lựa chọn, mà là tìm kiếm những phương thức phù hợp hơn với thực tiễn để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [1].

Tư tưởng ấy đã trở thành mục tiêu xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Từ một đất nước trải qua chiến tranh, kinh tế còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã từng bước phát triển. Diện mạo các đô thị, nông thôn thay đổi; điều kiện sống, học tập, làm việc của người dân được cải thiện; khoa học, công nghệ, chuyển đổi số ngày càng hiện diện trong đời sống.

Những con số về phát triển kinh tế cũng cho thấy sự thay đổi đó. Giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khoảng 6,2%/năm; riêng năm 2025 GDP tăng 8,02%, quy mô nền kinh tế đạt trên 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD…[2].

Nhưng với tôi, những con số ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi được nhìn từ cuộc sống. Tôi từng sống trong những năm tháng thiếu thốn, từng chứng kiến đất nước bị chiến tranh tàn phá. Vì vậy, mỗi khi đi qua những con đường rộng mở, nhìn những ngôi nhà mới, trường học, bệnh viện, những công trình hiện đại hay chứng kiến con cháu có điều kiện học tập, làm việc tốt hơn thế hệ chúng tôi, tôi cảm nhận rất rõ sự thay đổi của đất nước. Diện mạo hôm nay là điều mà thế hệ chúng tôi từng mong ước.

Tuy nhiên, là một đảng viên nhiều năm tuổi Đảng, tôi cũng hiểu rằng trong quá trình lãnh đạo và phát triển đất nước không thể không có hạn chế, khuyết điểm. Có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm pháp luật.

Nhưng điều quan trọng là Đảng không né tránh mà dám nhìn thẳng vào sự thật và kiên quyết tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Đơn cử, những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng được điều tra, truy tố, xét xử như vụ: Việt Á, vụ Công ty AIC, vụ Xuyên Việt Oil; nhiều cán bộ giữ cương vị cao vi phạm đều bị xử lý nghiêm.

Với tôi, đây không phải là câu chuyện về việc một tổ chức không có khuyết điểm, mà ngược lại, cho thấy yêu cầu phải nhìn thẳng vào khuyết điểm và sửa chữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết về vấn đề này rất rõ: “... một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình…, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[3].

Đối với tôi, đó là một nguyên tắc có ý nghĩa lâu dài.

Niềm tin không có nghĩa là không nhìn thấy hạn chế. Trái lại, niềm tin bền vững phải được xây dựng trên khả năng nhìn nhận cả những mặt được và chưa được, cả thành tựu và những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.

Từ một người lính từng trải qua chiến tranh đến một người dân sống trong thời bình, điều khiến tôi suy ngẫm nhiều nhất là: Niềm tin chỉ thực sự có sức sống khi được kiểm chứng bằng thực tiễn.

Tiếp nối trách nhiệm trên mặt trận tư tưởng

Cũng chính vì từng trải qua chiến tranh, tôi càng trăn trở khi thấy có những cách nhìn sai lệch về lịch sử xuất hiện trên không gian mạng.

Thời gian càng lùi xa, khoảng cách giữa thế hệ hôm nay với chiến tranh càng lớn. Nhiều người trẻ không có điều kiện trực tiếp cảm nhận những mất mát mà cha ông đã trải qua. Khoảng cách ấy có thể khiến những thông tin sai lệch, cách nhìn phiến diện hoặc những diễn giải xuyên tạc lịch sử dễ tác động đến nhận thức của một bộ phận người đọc.

Có những cách diễn giải cố tình cắt rời một sự kiện khỏi bối cảnh lịch sử; có cách phủ nhận những thành quả của cách mạng; cũng có cách lấy sai phạm của một số cá nhân để quy kết thành bản chất của cả một tổ chức.

Theo tôi, trước những vấn đề như vậy, điều cần thiết nhất là tôn trọng sự thật và tiếp cận lịch sử bằng thái độ khách quan, có căn cứ.

Vì vậy, những người từng trải qua chiến tranh có một trách nhiệm đặc biệt: Đó là kể lại những gì mình đã chứng kiến một cách trung thực, để thế hệ sau có thêm những nguồn tư liệu sống động về một giai đoạn lịch sử mà họ không trực tiếp trải qua. Chiến tranh có mất mát, đau thương, có những điều không thể nào quên. Kể không phải để tô hồng chiến tranh mà cần kể đúng về nó, để các cháu con hiểu hơn giá trị của hòa bình.

anh-4-phv-ke-lai-lich-su-cho-con-chau-nam-1685.jpg
Thiếu tá Phạm Hùng Vỹ ghi lại những câu chuyện lịch sử cho con cháu.

Tôi may mắn còn sống để trở về. Nhiều đồng đội thì không. Vì thế, kể lại những gì đã chứng kiến cũng là một cách để tưởng nhớ họ.

Điều khiến tôi vui và xúc động không chỉ là được chứng kiến những đổi thay của đất nước, mà còn là thấy những giá trị mà thế hệ chúng tôi đã gìn giữ, bảo vệ bằng mồ hôi, xương máu đang được các thế hệ sau tiếp tục kế thừa.

Con gái tôi hiện là đảng viên, công tác trong môi trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng. Qua những lần trao đổi về lịch sử dân tộc, về công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, tôi cảm nhận rõ rằng trách nhiệm đối với Tổ quốc hôm nay tuy không còn diễn ra trên chiến trường, nhưng vẫn đang được tiếp nối trên mặt trận tư tưởng, lý luận.

Tôi nghĩ, với những người làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mỗi bài giảng đúng đắn, mỗi lập luận có căn cứ, mỗi việc làm góp phần giúp cán bộ, đảng viên hiểu đúng lịch sử, nhận diện thông tin sai lệch đều có ý nghĩa.

Niềm tin của nhân dân không thể chỉ được xây dựng bằng những lời nói hay. Nó được hình thành từ những việc rất cụ thể. Đối với cán bộ, đảng viên, việc củng cố niềm tin trước hết phải bắt đầu từ chính mình: Gương mẫu trong công việc, có trách nhiệm trong cuộc sống, tôn trọng nhân dân và nói đi đôi với làm.

Đối với thế hệ trẻ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều lớn lao. Đó có thể là học tập nghiêm túc, làm việc có trách nhiệm, rèn luyện đạo đức, chấp hành pháp luật, nâng cao chuyên môn, biết phân biệt đúng - sai khi tiếp nhận thông tin và có trách nhiệm với cộng đồng.

Trong thời đại số, mỗi người đồng thời vừa là người tiếp nhận vừa có thể trở thành người lan truyền thông tin. Vì vậy, trách nhiệm của mỗi người là biết kiểm chứng nguồn tin, không tiếp tay cho thông tin sai sự thật và có ý thức lan tỏa những giá trị tích cực.

Nếu thế hệ chúng tôi từng cầm súng bảo vệ Tổ quốc trên chiến trường thì thế hệ hôm nay có những phương thức đóng góp khác. Các cháu có thể bảo vệ và xây dựng đất nước bằng tri thức, trách nhiệm, sự sáng tạo và khát vọng cống hiến. Điều quan trọng là đừng quên rằng những gì hôm nay chúng ta đang có được không phải tự nhiên mà có. Đằng sau độc lập, hòa bình và cuộc sống ngày càng tốt hơn là công sức, trí tuệ và sự hy sinh của nhiều thế hệ.

Tôi nghĩ đó chính là sự tiếp nối tự nhiên giữa các thế hệ.

Hơn nửa thế kỷ đứng trong hàng ngũ của Đảng, từ chiến trường miền Nam, những năm tháng bảo vệ biên giới Tây Nam, thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia đến cuộc sống hôm nay, tôi càng thấm thía điều ấy.

Niềm tin của tôi không được hình thành từ cảm tính. Nó được tôi luyện trong chiến tranh, qua những mất mát của đồng đội; rồi tiếp tục được kiểm chứng trong những năm tháng hòa bình, đổi mới và phát triển đất nước.

Với tuổi tám mươi lăm, tôi không mong gì hơn là những câu chuyện của thế hệ mình được thế hệ sau hiểu đúng.

Để các cháu biết trân trọng hòa bình.

Để những người đã hy sinh không bị lãng quên.

Và để mỗi thế hệ, bằng cách của mình, tiếp tục góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nếu thế hệ cha anh đã bảo vệ Tổ quốc bằng lòng quả cảm trên chiến trường, thì thế hệ hôm nay tiếp nối bằng tri thức, trách nhiệm, sáng tạo và khát vọng cống hiến. Đó cũng là cách để một đời người đi qua chiến tranh gửi lại cho mai sau một điều quý giá nhất: Niềm tin vào tương lai của đất nước.

  1. Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng đăng trên Báo Cứu quốc số 69 ngày 17/10/1945. ↑
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập 1, tr 47. ↑
  3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2011, tr. 301 ↑
Phạm Hùng Vỹ - Phạm Khánh Phương (Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu)

Có thể bạn quan tâm