Không chỉ cung cấp nhiên liệu cho sản xuất điện và nhiều ngành kinh tế, công nghiệp than còn tạo động lực tăng trưởng, đóng góp ngân sách, giải quyết việc làm và thúc đẩy các hoạt động logistics, xuất nhập khẩu, dịch vụ tại Quảng Ninh. Trong bối cảnh địa phương chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ngành Than tiếp tục khẳng định vị thế trụ cột, đồng thời đứng trước yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo đảm an toàn và sử dụng tài nguyên bền vững.
Đóng góp lớn cho kinh tế địa phương
Một trong những minh chứng rõ nét cho vai trò chủ lực của ngành Than là khả năng bảo đảm nguồn nhiên liệu cho sản xuất điện và các ngành kinh tế. TKV đặt mục tiêu tiêu thụ 50 triệu tấn than, trong đó than sạch trên 36,6 triệu tấn và than nhập khẩu khoảng 11 triệu tấn trong năm 2026. Ngay từ đầu năm, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã chủ động điều hành sản xuất, tăng cường khai thác tại những khu vực có điều kiện thuận lợi, phối hợp chặt chẽ giữa các khâu khai thác, sàng tuyển, chế biến và tiêu thụ nhằm bảo đảm nguồn cung. Đến hết tháng 6, sản lượng tiêu thụ của Tập đoàn đạt gần 27,4 triệu tấn.
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng và thị trường có nhiều biến động, nhiệm vụ của ngành Than không chỉ là duy trì sản lượng mà còn phải điều hành linh hoạt, cân đối cung cầu, bảo đảm nguồn than đúng thời điểm, chủng loại và kiểm soát chi phí. TKV chú trọng nắm bắt nhu cầu thị trường trong nước, thực hiện các hợp đồng dài hạn với những đơn vị thuộc lĩnh vực điện, dầu khí, xi măng, phân bón, hóa chất; đồng thời đa dạng hóa nguồn cung từ than sản xuất trong nước, than nhập khẩu và than pha trộn. Việc từng bước hoàn thiện cơ chế kinh doanh theo hướng thị trường, công khai, minh bạch góp phần nâng cao hiệu quả điều hành và bảo đảm cung ứng than ổn định cho nền kinh tế.
Vai trò này cũng được xác định trong Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo đó, TKV và Binh đoàn 19 giữ vai trò chủ đạo trong phát triển bền vững ngành Than, cung cấp than sản xuất trong nước cho các ngành kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất điện.
Không chỉ bảo đảm nguồn nhiên liệu, ngành Than còn đóng góp đáng kể vào ngân sách và tạo việc làm cho người lao động. Năm 2025, sản lượng than sạch trên địa bàn Quảng Ninh đạt khoảng 42,925 triệu tấn, đóng góp 19.957 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, tương đương 23,5% tổng thu ngân sách của tỉnh. Riêng TKV sản xuất hơn 38,3 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ khoảng 44 triệu tấn; doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt hơn 161.369 tỷ đồng, nộp ngân sách 25.514 tỷ đồng.
Sang năm 2026, hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục ghi nhận quy mô lớn. Trong 6 tháng đầu năm, TKV sản xuất 19,7 triệu tấn than sạch, tiêu thụ gần 27,4 triệu tấn, đạt doanh thu trên 94.100 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước hơn 14.000 tỷ đồng, trong đó nộp tại Quảng Ninh trên 10.400 tỷ đồng.
Hiện TKV có 38 công ty hoạt động trên địa bàn thành phố, với khoảng 76.000 cán bộ, người lao động; sản lượng than bình quân đạt 38-40 triệu tấn/năm. Quy mô này cho thấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh của ngành tác động trực tiếp đến việc làm, thu nhập của đông đảo người lao động, đồng thời tạo thị trường cho nhiều doanh nghiệp cung ứng vật tư, thiết bị và dịch vụ. Năm 2025, thu nhập bình quân của người lao động TKV đạt trên 19,5 triệu đồng/người/tháng.
Sức lan tỏa của ngành Than còn thể hiện qua chuỗi hoạt động kinh tế liên quan, từ vận tải, kho cảng, cơ khí, vật tư, dịch vụ kỹ thuật đến logistics và xuất nhập khẩu. Năm 2025, các doanh nghiệp ngành Than và doanh nghiệp liên quan thực hiện thủ tục qua Hải quan khu vực VIII với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu khoảng 2,229 tỷ USD, đóng góp khoảng 6.007 tỷ đồng vào ngân sách. Trong đó, than nhập khẩu đạt kim ngạch gần 2 tỷ USD, đóng góp hơn 5.432 tỷ đồng.
Có thể thấy, vị thế của công nghiệp than không chỉ được đo bằng sản lượng khai thác hay doanh thu của các doanh nghiệp. Bởi đằng sau mỗi tấn than là hệ thống sản xuất, vận chuyển, sàng tuyển, chế biến, tiêu thụ cùng mạng lưới dịch vụ hỗ trợ, tạo nên mối liên kết kinh tế rộng lớn và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của Quảng Ninh.
Đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất
Năm 2026, TKV đặt mục tiêu doanh thu toàn Tập đoàn đạt 171.645 tỷ đồng, lợi nhuận 5.097 tỷ đồng, đầu tư xây dựng cơ bản 12.220 tỷ đồng và nộp ngân sách tại Quảng Ninh khoảng 16.400 tỷ đồng. Để hoàn thành các mục tiêu này, ngành Than phải giải quyết đồng thời nhiều thách thức: Điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu; chi phí sản xuất và logistics biến động, nhu cầu than cho sản xuất điện có thời điểm giảm, trong khi yêu cầu chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải ngày càng rõ nét.
Theo thống kê được cung cấp, trong 8 tháng năm 2026, sản lượng than sạch của Quảng Ninh giảm 1,8% so với cùng kỳ; ngành khai khoáng giảm 1,64%. Những diễn biến này đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng điều hành, tối ưu hóa quy trình sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong bối cảnh đó, tăng sản lượng bằng mọi giá không còn là bài toán phù hợp; điều quan trọng hơn là duy trì năng lực sản xuất ổn định, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo đảm an toàn trong toàn bộ quá trình khai thác.
Khoa học công nghệ, cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số vì thế ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của ngành. TKV kiên trì định hướng hiện đại hóa sản xuất theo hướng “3 hóa”: Cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa; lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện địa chất, đặc điểm từng mỏ và yêu cầu nâng cao năng suất. Việc đưa các thiết bị, dây chuyền cơ giới hóa vào khai thác không chỉ giúp tăng sản lượng, giảm lao động trực tiếp mà còn cải thiện điều kiện làm việc, tăng cường kiểm soát an toàn và hạn chế tổn thất tài nguyên.
Cùng với đó, TKV tập trung triển khai các dự án phát triển mỏ than, cảng biển; đẩy nhanh tiến độ các dự án xuống sâu, bảo đảm sản lượng theo kế hoạch; nâng cao hiệu quả chế biến, pha trộn than và chủ động nguồn cung cho khách hàng, nhất là các nhà máy nhiệt điện. Tập đoàn đồng thời phát huy khả năng khai thác lộ thiên tại những mỏ đủ điều kiện, phát triển các mỏ hầm lò công suất lớn, tăng cường nghiên cứu địa chất và đánh giá điều kiện kỹ thuật để lựa chọn công nghệ khai thác tối ưu.
Đáng chú ý, việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa cơ mỏ, thu thập và phân tích thông tin về địa chất vỉa than, cơ học đá cùng đặc điểm vách, trụ vỉa đang hỗ trợ quá trình lựa chọn những khu vực có điều kiện phù hợp để áp dụng cơ giới hóa. Đây là cơ sở quan trọng để hiện đại hóa sản xuất, nâng cao năng suất khai thác và từng bước chuyển hoạt động khai thác than theo hướng dựa nhiều hơn vào công nghệ, dữ liệu và quản trị hiện đại.
Thực tế triển khai cho thấy, các mỏ hầm lò của TKV đang áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến trong đào lò, khai thác, thông gió, kiểm soát khí mỏ và thoát nước. Toàn Tập đoàn hiện có 12 dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ hạng nặng, hạng trung và hạng nhẹ tại 8 trong tổng số 13 đơn vị khai thác hầm lò. Trong đó có 4 dây chuyền lò chợ cơ giới hóa đồng bộ khấu hết chiều dày vỉa, 7 dây chuyền lò chợ cơ giới hóa đồng bộ hạ trần than nóc và 1 dây chuyền sử dụng tổ hợp 2ANSH.
Nhìn chung, các lò chợ cơ giới hóa đều đã đạt sản lượng và năng suất cao, nâng cao mức độ an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Tỷ lệ than khai thác bằng hệ thống cơ giới hóa đồng bộ ngày càng tăng, tỷ lệ tổn thất than trong khai thác ngày một giảm, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiết kiệm tài nguyên.
Cùng với đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên tiết kiệm đang trở thành những yêu cầu xuyên suốt đối với ngành Than. Các giải pháp kiểm soát bụi, quản lý chất thải, cải thiện môi trường sản xuất và hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật cần được triển khai đồng bộ với quá trình nâng cao năng suất. Điều này không chỉ góp phần giảm tác động của hoạt động khai thác đến môi trường mà còn tạo nền tảng để ngành phát triển ổn định, đáp ứng tốt hơn những tiêu chuẩn ngày càng cao về môi trường và trách nhiệm xã hội.
Quảng Ninh đang từng bước mở rộng các động lực tăng trưởng, thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ. Trong 8 tháng năm 2026, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,77%, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn địa bàn tăng 16,24%. Sự chuyển dịch này đặt ra yêu cầu các ngành kinh tế truyền thống, trong đó có công nghiệp than, phải tiếp tục đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp hiệu quả hơn vào cơ cấu kinh tế địa phương.
Với Quảng Ninh, ngành Than vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng, ngân sách, việc làm và bảo đảm an ninh năng lượng. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, vai trò chủ lực của ngành Than không chỉ nằm ở quy mô khai thác hay doanh thu, mà còn ở khả năng làm chủ công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo đảm an toàn, giảm tác động môi trường và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế.
Từ nền tảng đã được xây dựng qua nhiều năm, cùng yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất và quản trị, công nghiệp than đang đứng trước nhiệm vụ vừa phát huy thế mạnh truyền thống, vừa thích ứng với những thay đổi của thị trường năng lượng và mô hình tăng trưởng. Nâng cao chất lượng tăng trưởng, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, an toàn lao động và trách nhiệm môi trường sẽ là yếu tố quyết định để ngành Than tiếp tục khẳng định vị thế, đóng góp bền vững vào sự phát triển của Quảng Ninh.