Chuyển đổi số hiện diện trong đời sống hàng ngày

Từ quyết tâm chính trị cao, cùng cách làm bài bản, đồng bộ, không ngừng đổi mới, hành trình chuyển đổi số ở Quảng Ninh đã và đang để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống xã hội. Những chuyển biến ấy không chỉ thể hiện qua các con số, mà còn hiện diện trong từng công việc hằng ngày, trong cách người dân tiếp cận dịch vụ công. 

Từ nghị quyết đến hành động thực chất

Đối với Quảng Ninh, chuyển đổi số không bắt đầu từ công nghệ, mà bắt đầu từ tư duy phát triển. Trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, chương trình chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới, Quảng Ninh sớm xác định chuyển đổi số là trụ cột chiến lược, song hành cùng cải cách hành chính, đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi xanh.

Người dân xã Điền Xá hướng dẫn nhau cách sử dụng các tiện ích số.
Người dân xã Điền Xá hướng dẫn nhau cách sử dụng các tiện ích số.

Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 5/2/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chuyển đổi số toàn diện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo nền tảng chính trị vững chắc, thống nhất nhận thức và hành động trong toàn tỉnh. Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành đồng bộ các chương trình, đề án, kế hoạch hành động với mục tiêu, lộ trình và chỉ tiêu cụ thể, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm. Riêng UBND tỉnh đã ban hành 84 quyết định, 104 kế hoạch liên quan trực tiếp đến chuyển đổi số, con số cho thấy sự chuẩn bị kỹ lưỡng và quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện.

Điểm nổi bật trong cách làm của Quảng Ninh là gắn chuyển đổi số với phong trào thi đua, biến nhiệm vụ chuyên môn thành hành động thường xuyên, liên tục, có đánh giá, đo lường cụ thể. Trách nhiệm người đứng đầu được xác định rõ; kết quả chuyển đổi số trở thành một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương. Chính sự gương mẫu, quyết liệt từ trên xuống đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, hình thành tinh thần hành động thống nhất - kỷ luật - đồng tâm trong toàn hệ thống. Với cách làm quyết liệt, sáng tạo, Quảng Ninh đã, đang thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trên cả 3 trụ cột: Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Xác định chính quyền số là nội dung quan trọng của chuyển đổi số, Quảng Ninh tập trung đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng đồng bộ, hiện đại và kết nối. Các trung tâm tích hợp dữ liệu được xây dựng và đưa vào vận hành, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, chính quyền, đồng thời từng bước kết nối, chia sẻ với các nền tảng dùng chung quốc gia.

Ông Phạm Xuân Thành, Phó Chủ tịch UBND phường Yên Tử, xử lý công việc trên phần mềm văn bản điện tử.
Ông Phạm Xuân Thành, Phó Chủ tịch UBND phường Yên Tử, xử lý công việc trên phần mềm văn bản điện tử.

Hiện nay, các địa phương, ban, ngành đã ứng dụng phần mềm quản lý văn bản tại tất cả các phòng chuyên môn. Đến nay, phần mềm quản lý văn bản đã được triển khai tại 100% sở, ban, ngành, phường, xã, đặc khu trên địa bàn tỉnh; có 28.520 chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ, trong đó trên 3.000 chứng thư số cho cơ quan, tổ chức và gần 30.000 chứng thư số cho cá nhân đang hoạt động. 100% cán bộ, công chức, viên chức từ cấp phó trưởng phòng trở lên đã được cấp và sử dụng chữ ký số chuyên dùng vào giao dịch điện tử nhà nước trên hệ thống chính quyền điện tử; 100% hồ sơ công việc tại cấp tỉnh, 90% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý toàn trình trên môi trường mạng (không bao gồm hồ sơ mật).

Đến hết năm 2025, Quảng Ninh đã có gần 20 triệu văn bản điện tử được trao đổi qua mạng có chữ ký số. Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến đến 100% xã, phường, đặc khu qua đường truyền số liệu chuyên dùng đáp ứng việc triển khai hội nghị truyền hình từ Trung ương đến tỉnh, cấp xã.

Ông Phạm Xuân Thành, Phó Chủ tịch UBND phường Yên Tử, chia sẻ: Tôi thường xuyên phải đi công tác và tham dự nhiều cuộc họp từ cấp tỉnh đến phường. Thời gian qua, với hệ thống quản lý văn bản điện tử, tôi có thể xem xét, phê duyệt văn bản ở bất kỳ thời điểm nào thông qua thiết bị điện tử có kết nối Internet. Nhờ đó luôn bảo đảm tiến độ giải quyết công việc của đơn vị.

Ngay từ khi triển khai chuyển đổi số, tỉnh xác định “lấy người dân làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của chuyển đổi số”. Thủ tục hành chính được người dân quan tâm nhất, vì vậy tỉnh đã tối ưu hóa hệ thống thông tin thủ tục hành chính của tỉnh hướng đến người dùng, tạo thuận lợi cho người dân. Hiện 100% thủ tục hành chính được kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Điều này tạo thành một kênh trao đổi dữ liệu thông suốt, phá bỏ sự chia cắt về dữ liệu giữa các sở, ban, ngành và các cấp hành chính, giảm thời gian luân chuyển hồ sơ; cho phép tự động hóa nhiều khâu trong quy trình giải quyết thủ tục hành chính (tra cứu thông tin, xác thực, đối chiếu dữ liệu...); tạo nền tảng dữ liệu dùng chung, hỗ trợ ra quyết định quản lý nhà nước dựa trên dữ liệu số.

Chị Bế Thị Phấu (xã Điền Xá) phấn khởi chia sẻ: Từ khi có điện thoại thông minh và mạng Internet, tôi đã gọi điện được cho người thân qua video, tìm hiểu các mô hình kinh tế mới để áp dụng cho gia đình, đồng thời bán được những sản phẩm của nhà làm ra như mật ong, rượu men lá... thông qua môi trường thương mại điện tử.

Cùng với đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp trên địa bàn tỉnh đã triển khai nhiều tiện ích số phục vụ người dân, như: Tiện ích hóa quy trình nộp hồ sơ qua dịch vụ công trực tuyến, thủ tục hành chính phi địa giới, ki-ốt tự động hóa thủ tục hành chính, ký số, thanh toán điện tử, trả kết quả điện tử, hệ thống đặt lịch... Minh bạch hóa và theo dõi tiến độ, giám sát hồ sơ trực tuyến 24/7 theo thời gian thực, đánh giá chất lượng phục vụ trên Cổng dịch vụ công quốc gia; tối ưu hóa dữ liệu và giảm giấy tờ qua các cơ sở dữ liệu điện tử...

Qua đó, tỷ lệ hồ sơ nộp và xử lý trực tuyến đạt trên 90%, giảm mạnh việc tiếp xúc trực tiếp, tiết kiệm thời gian và chi phí, góp phần giúp Quảng Ninh chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình hành chính truyền thống sang mô hình "Chính quyền kiến tạo, phục vụ", đặt sự hài lòng và tiện ích của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm.

Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh giải quyết thủ tục hành chính cho công dân.
Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh giải quyết thủ tục hành chính cho công dân.

Với cách làm trên, quý I/2026, toàn tỉnh đã tiếp nhận tổng số 148.918 hồ sơ, trong đó tiếp nhận 4.513 hồ sơ thủ tục hành chính phi địa giới; đã giải quyết 136.938 hồ sơ, trong đó 133.389 hồ sơ đúng và trước hạn (97,4%); 100% phí, lệ phí giải quyết thủ tục hành chính thực hiện qua hình thức thanh toán điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt. Phối hợp với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông hỗ trợ người dân chuyển đổi thuê bao chính chủ, cung cấp miễn phí 2.508 chữ ký số công cộng và cài đặt ứng dụng mobile money để đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến.

Đặc biệt, toàn bộ quy trình tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả thủ tục hành chính được số hóa, công khai rõ ràng về thời hạn, tiến độ xử lý, cũng như trách nhiệm của từng cán bộ, công chức. Hệ thống báo cáo, thống kê và giám sát tự động được vận hành trên nền tảng dữ liệu số, giúp cơ quan quản lý kịp thời phân tích, đánh giá tình hình thực hiện, phát hiện sớm những điểm nghẽn, hạn chế trong quá trình giải quyết hồ sơ. Thông tin về tiến độ, kết quả xử lý hồ sơ được cập nhật theo thời gian thực, hỗ trợ công tác điều hành linh hoạt, hiệu quả và khách quan hơn.

Việc áp dụng các công cụ số trong quản lý, giám sát đã góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính; phòng ngừa tiêu cực, nhũng nhiễu trong thực thi công vụ, đồng thời củng cố niềm tin, sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với cơ quan hành chính nhà nước.

Kinh tế số, xã hội số - người dân và doanh nghiệp là trung tâm

Chuyển đổi số đã tạo cú hích quan trọng cho phát triển kinh tế số. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của Quảng Ninh tăng đều qua các năm, từ 6,68% (năm 2022) lên 7,73% (năm 2025), phản ánh xu hướng chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế.

Anh Lý Văn Bằng (xã Hải Lạng) livestream bán hàng qua mạng.
Anh Lý Văn Bằng (xã Hải Lạng) livestream bán hàng qua mạng.

Hiện nay, 100% doanh nghiệp và hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử; 100% doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh được phổ cập chữ ký số. Hiện trên địa bàn tỉnh đã có hơn 200 cửa hàng xăng dầu hoàn thành lắp đặt camera để đảm bảo an ninh và quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh, mua bán xăng dầu (đạt 100%).

Thương mại điện tử phát triển mạnh, đặc biệt là sàn thương mại điện tử OCOP Quảng Ninh trở thành kênh quảng bá, tiêu thụ hiệu quả cho sản phẩm địa phương, nơi 100% sản phẩm OCOP của tỉnh được giới thiệu, quảng bá, mở rộng thị trường. Công tác truy xuất nguồn gốc được triển khai rộng rãi với hàng triệu sản phẩm được gắn QR-code, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa, tăng niềm tin của người tiêu dùng. Hiện 100% chợ trung tâm chấp nhận thanh toán các khoản phí và thực hiện thanh toán hóa đơn điện, nước thông qua phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Điểm nhấn là tỉnh đang tập trung đầu tư dự án Khu công nghệ số tập trung Tuần Châu, gắn với mô hình "Cảng dữ liệu" và Trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực phía Bắc, mở ra không gian phát triển mới cho ngành công nghiệp số, tạo nền tảng cho kinh tế số phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, vừa qua Quảng Ninh đã tổ chức khởi động xây dựng mô hình cửa khẩu thông minh tại cặp cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc), mở ra bước phát triển mới trong ứng dụng công nghệ số vào quản lý cửa khẩu, logistics và thương mại biên giới.

Một dấu ấn nổi bật trong 4 năm thực hiện chuyển đổi số của Quảng Ninh là phát triển xã hội số, lấy người dân làm trung tâm, làm chủ thể và là đối tượng thụ hưởng. Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chính là “chìa khóa” cho việc đưa dịch vụ công trực tuyến và kỹ năng số đến với người dân, Quảng Ninh đã sáng tạo, đột phá và đi trước một bước trong việc thành lập các tổ công nghệ số cộng đồng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã thành lập 1.538 tổ công nghệ số cộng đồng với 11.803 thành viên tại thôn, bản, hỗ trợ phổ cập kỹ năng số cho người dân. Lực lượng này luôn ngày đêm bám sát, hướng dẫn, giúp đỡ người dân sử dụng các tiện ích số. Đây cũng là khâu tạo sức chuyển động rõ rệt về đào tạo công dân số.

Với sự tuyên truyền tích cực, hiện trên địa bàn tỉnh có 3,5 triệu tài khoản cá nhân, trong đó 2,5 triệu tài khoản đang hoạt động. Thanh toán không dùng tiền mặt tăng nhanh cả số lượng và giá trị giao dịch, lũy kế năm 2024, số lượng giao dịch tăng 90,7%.

Để nâng cao năng lực số, trong năm 2025 tỉnh đã tổ chức gần 260 lớp đào tạo, bồi dưỡng với gần 24.570 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia. Hoàn thành cấp căn cước công dân gắn chíp cho 100% người dân và kích hoạt định danh điện tử mức độ 2 cho 100% công dân đủ điều kiện.

Ứng dụng rộng rãi các sản phẩm số

Thực hiện Nghị quyết số 09 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, trong nhiệm kỳ qua, các sở, ban, ngành, địa phương đã đẩy mạnh triển khai các nghị quyết, qua đó có những cách làm sáng tạo áp dụng trong đơn vị, mang lại hiệu quả trong công tác quản lý và tạo thuận lợi cho nhân dân.

Học sinh sử dụng thiết bị tương tác để tra cứu tài liệu phục vụ cho học tập.
Học sinh sử dụng thiết bị tương tác để tra cứu tài liệu phục vụ cho học tập.

Xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để xây dựng lực lượng công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, những năm qua Công an tỉnh đã chủ động triển khai nhiều giải pháp ứng dụng công nghệ vào các mặt công tác.

Một trong những ứng dụng nổi bật được ngành Công an triển khai áp dụng là ứng dụng “Di biến động” trên điện thoại thông minh, ứng dụng này là sản phẩm được cụ thể hoá từ sáng kiến cải cách hành chính với chủ đề “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý di biến động đối tượng tại địa bàn cơ sở” do Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội chủ trì nghiên cứu, xây dựng và hiện đang triển khai thí điểm tới 54 công an xã, phường, đặc khu trên địa bàn toàn tỉnh.

Với tài khoản đăng nhập được tạo theo số căn cước công dân, ứng dụng cho phép tích hợp tính năng định vị GPS, tự động gửi thông tin vị trí của đối tượng về hệ thống theo dõi của cảnh sát khu vực định kỳ 2 lần/ngày... Đồng thời hỗ trợ kiểm danh, kiểm diện từ xa thông qua hình ảnh chân dung theo thời gian thực.

Phần mềm quản lý vụ việc liên quan xuất, nhập cảnh và người nước ngoài do Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an tỉnh) nghiên cứu, phát triển. Ảnh: Hằng Ngần
Phần mềm quản lý vụ việc liên quan xuất, nhập cảnh và người nước ngoài do Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an tỉnh) nghiên cứu, phát triển. Ảnh: Hằng Ngần

Cùng với các đơn vị, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an tỉnh) cũng đã chủ động nghiên cứu phần mềm quản lý vụ việc liên quan xuất, nhập cảnh và người nước ngoài. Phần mềm cho phép khởi tạo và quản lý toàn bộ vòng đời của một vụ việc, từ thông tin ban đầu như thời gian, địa điểm, đối tượng, nội dung, đến quá trình xử lý, kết quả giải quyết. Mỗi vụ việc đều được phân quyền cụ thể theo đơn vị chủ trì, bảo đảm yêu cầu bảo mật nghiệp vụ. Đặc biệt, hệ thống có khả năng thống kê, phân tích dữ liệu theo thời gian thực, trực quan hóa bằng biểu đồ, hỗ trợ xuất báo cáo dưới nhiều định dạng. 

Trong ngành Than, an toàn lao động luôn được xác định là điều kiện tiên quyết trong mọi hoạt động sản xuất. Chính vì vậy, ngành Than đã triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tuyên truyền về an toàn lao động như một hướng đi mới, mở ra cách tiếp cận sinh động, hiệu quả hơn trong xây dựng văn hóa an toàn của toàn ngành.

Với đặc thù khai thác lộ thiên, Than Hà Tu có không gian sản xuất rộng, cường độ lao động cao, nhiều thiết bị cơ giới cỡ lớn hoạt động liên tục. Nguy cơ mất an toàn không chỉ đến từ yếu tố con người, mà còn từ sự tương tác phức tạp giữa máy móc, địa hình và điều kiện thời tiết. Từ thực tế ấy, đoàn viên, thanh niên Than Hà Tu đã chủ động tiếp cận các công cụ AI để xây dựng những video mô phỏng tình huống mất an toàn trong khai thác lộ thiên. Các tình huống được mô phỏng như nguy cơ sạt lở tầng, va chạm thiết bị, đến những lỗi thao tác thường gặp. Nhờ AI, các tình huống được tái hiện nhanh chóng, sinh động, tiết kiệm thời gian và chi phí so với cách làm truyền thống.

Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đến nay 100% cơ sở giáo dục đã triển khai phần mềm quản lý trực tuyến; 100% cấp tiểu học sử dụng học bạ điện tử; 100% cán bộ cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục sử dụng chữ ký số; gần 100% giáo viên, học sinh, trẻ mầm non được cập nhật thông tin điện tử; 98,81% cán bộ, giáo viên, học sinh phổ thông có hồ sơ định danh cá nhân xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Đối với lĩnh vực y tế, Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu triển khai bệnh viện không giấy tờ, sử dụng căn cước thay thế thẻ BHYT; triển khai phần mềm bệnh án điện tử, dữ liệu khám, chữa bệnh được liên thông, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tiết học sử dụng bảng thông minh tại Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo (phường Hồng Gai).
Tiết học sử dụng bảng thông minh tại Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo (phường Hồng Gai).

Ứng dụng VNeID ngày càng trở nên quen thuộc, hỗ trợ người dân thực hiện nhiều thủ tục hành chính, theo dõi thông tin cá nhân, sử dụng các dịch vụ thiết yếu ngay trên điện thoại. Thanh toán không tiền mặt cũng phát triển mạnh, xuất hiện ở hầu hết các chợ, cửa hàng, giúp việc mua bán trở nên nhanh gọn, thuận tiện hơn. Hàng loạt hoạt động như mô hình kiosk sử dụng sinh trắc học đăng ký khám, chữa bệnh tự động; camera AI kiểm soát ra, vào tại nhà máy; hệ thống cảnh báo cháy nổ tự động; camera AI tại các ngã ba, ngã tư, vị trí giao thông đông đúc, phức tạp; triển khai thiết bị xác thực thẻ căn cước để định danh chính xác thí sinh dự thi, giảm thiểu tráo người, gian lận tại kỳ thi sát hạch, đào tạo lái xe; học bạ số tại các trường học trên địa bàn tỉnh… Những ứng dụng này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, mà còn mang lại sự thuận tiện thiết thực cho người dân trong cuộc sống hằng ngày.

Hạ tầng số được coi là "xương sống" của quá trình chuyển đổi số, tỉnh đã đầu tư mạnh mẽ, hiện toàn tỉnh có gần 5.600 trạm BTS, phủ sóng 4G cho 100% dân số; 5G đạt khoảng 40% diện tích. 97,74% hộ gia đình sử dụng Internet cáp quang, tỷ lệ sử dụng smartphone đạt trên 95%. Hạ tầng truyền số liệu chuyên dùng, hội nghị truyền hình trực tuyến được nâng cấp đồng bộ; công tác ngầm hóa cáp viễn thông, dùng chung hạ tầng được đẩy mạnh, vừa nâng cao hiệu quả đầu tư, vừa bảo đảm mỹ quan đô thị.

Có thể thấy, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời, mà đã trở thành một phần của cuộc sống thường ngày. Những thay đổi diễn ra một cách tự nhiên, từ cách làm việc của cán bộ, đến cách người dân tiếp cận dịch vụ, mua sắm, học tập và chăm sóc sức khỏe.

Có thể bạn quan tâm