Những năm qua, Quảng Ninh đã dành nguồn lực lớn đầu tư các công trình cấp nước tập trung, từng bước thu hẹp những "vùng lõm" về nước sạch. Nhiều khu vực trước đây người dân chỉ có thể sử dụng nước giếng, nước khe thì nay đã có hệ thống cấp nước đến tận khu dân cư. Theo Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 9/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, mục tiêu cốt lõi trong năm 2026 của tỉnh là đưa tỷ lệ cư dân đô thị được cấp nước sạch tập trung vượt mốc 95,5% và nâng tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận nước sạch chuẩn lên trên 85%. Để hiện thực hóa mục tiêu này, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp cấp nước, vai trò của chính quyền địa phương trong công tác quản lý, tuyên truyền, vận động người dân và tháo gỡ những khó khăn trong quá trình triển khai được xem là yếu tố mang tính quyết định.
Sự chênh lệch giữa các vùng miền
Tính đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đạt trung bình 89,84%. Trong đó, khu vực đô thị đạt mức cao với 94,07%. Nhiều nơi như lõi đô thị khu vực Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên đã hoàn thành phủ kín 100% cho cả hộ dân và cơ sở kinh doanh.
Ngược lại, tại khu vực ngoại thành và nông thôn, tỷ lệ này mới chỉ đạt 68,06%. Đáng chú ý, một số địa phương như Ba Chẽ, Bình Khê, Hải Hòa, Móng Cái 3 có tỷ lệ hộ dân dùng nước sạch rất thấp, dưới 40%.
Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ đặc điểm dân cư phân tán, chi phí đầu tư đường ống lớn, mà còn do nhiều hộ dân vẫn duy trì thói quen sử dụng nước giếng khoan, nước ngầm hoặc nước khe suối dù hệ thống cấp nước sạch đã từng bước được mở rộng.
Sự chênh lệch này cũng cho thấy, bài toán phát triển nước sạch hiện nay không còn đơn thuần là đầu tư hạ tầng. Khi mạng lưới cấp nước đã vươn tới nhiều khu dân cư, thách thức lớn hơn là làm thay đổi thói quen sử dụng nước của người dân và mở rộng vùng phục vụ tại những khu vực còn "trắng" hạ tầng. Đây cũng là giai đoạn khó khăn nhất trong quá trình thực hiện mục tiêu phổ cập nước sạch.
Để hoàn thành chỉ tiêu tỉnh đặt ra năm 2026, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh cần phát triển thêm 22.130 hộ khách hàng. Trong đó, gần 9.500 hộ nằm trong khu vực đã có mạng lưới cấp nước nhưng chưa đấu nối; hơn 14.700 hộ còn lại thuộc khu vực chưa có hạ tầng kỹ thuật.
Theo tính toán, doanh nghiệp phải triển khai 56 công trình với gần 387km đường ống HDPE các loại. Đến hết tháng 6/2026, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh hoàn thành thi công 18/56 công trình, lắp đặt khoảng 36km đường ống và phát triển gần 5.000 khách hàng mới.
Như vậy, khối lượng công việc còn lại trong những tháng cuối năm vẫn rất lớn, đòi hỏi không chỉ sự quyết tâm của doanh nghiệp cấp nước mà còn cần sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền các địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng, tuyên truyền và vận động người dân đấu nối sử dụng nước sạch.
Chính quyền cơ sở - chìa khóa mở rộng vùng nước sạch
Nếu doanh nghiệp cấp nước là đơn vị đầu tư hạ tầng thì chính quyền địa phương lại là lực lượng quyết định hạ tầng đó có phát huy hiệu quả hay không. Từ công tác giải phóng mặt bằng, tuyên truyền, vận động người dân đấu nối đến quản lý hoạt động khai thác nước tự phát, mỗi khâu đều đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền cơ sở. Thực tiễn tại Quảng Ninh cho thấy, ở đâu địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, ở đó việc mở rộng vùng cấp nước và phát triển khách hàng sử dụng nước sạch đều đạt kết quả tích cực.
Điển hình như tại phường Đông Triều và An Sinh, ngay sau khi Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh triển khai đầu tư hệ thống cấp nước, chính quyền địa phương đã chủ động phối hợp cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong quá trình thi công. Không chỉ tuyên truyền, vận động người dân tạo điều kiện cho đơn vị thi công, địa phương còn huy động lực lượng quân sự hỗ trợ giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ lắp đặt đường ống. Nhờ đó, từ tháng 4/2026, hàng trăm hộ dân khu La Dương (phường Đông Triều) đã được sử dụng nước sạch tập trung, chấm dứt nhiều năm phụ thuộc vào nguồn nước giếng khoan thường xuyên nhiễm cặn vôi.
Tương tự, tại phường Móng Cái 2, chính quyền địa phương đã phối hợp với Xí nghiệp nước Móng Cái rà soát hiện trạng, hỗ trợ máy móc đào đắp đường ống và tích cực vận động nhân dân. Nhờ vậy, trong 6 tháng đầu năm 2026, đã có trên 800 hộ dân tại đây thực hiện đấu nối thành công.
Hai địa phương với những điều kiện, địa hình khác nhau nhưng đều có một điểm chung, đó là chính quyền không đứng ngoài quá trình phát triển nước sạch. Chính sự chủ động trong chỉ đạo, phối hợp và đồng hành với doanh nghiệp đã tháo gỡ những khó khăn mà một đơn vị cấp nước khó có thể tự giải quyết. Bởi hơn ai hết, chính quyền cơ sở là lực lượng nắm rõ đặc điểm từng khu dân cư, biết khu vực nào còn sử dụng nước giếng, nơi nào gặp vướng mắc trong giải phóng mặt bằng hay những hộ dân còn băn khoăn về chi phí và chất lượng nước. Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng để đưa chủ trương phát triển nước sạch đi vào thực tế.
Tuy nhiên, tại một số khu vực khác, công tác tuyên truyền của chính quyền địa phương vẫn còn mang tính hình thức khi giao khoán hoàn toàn cho cấp cơ sở hoặc trưởng khu phố. Việc thiếu hỗ trợ trong công tác giải phóng mặt bằng và vận động người dân khiến doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại khi mở rộng mạng lưới ở những vùng thưa dân, vốn là những dự án có chi phí đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Thậm chí, tại một số khu vực, chính quyền địa phương đã buông lỏng quản lý, khiến cho tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch giảm, xuất hiện tình trạng cá nhân tự ý khai thác bán nước khe cho người dân.
Nhiều hộ dân phường Vàng Danh cho biết, tại khu vực từ khu phố Vàng Danh 1 đến khu phố Vàng Danh 9, khu Đồng Bống - Miếu Thán có hệ thống cấp nước khe suối bằng đường ống HDPE do tư nhân tự đầu tư đấu nối cấp nước cho người dân trong địa bàn. Nguồn nước này lấy từ núi Bảo Đài, có lắp đặt đồng hồ và thu phí với giá 8.000m3. Tại một số khu vực khác thì người dân lại đóng tiền phí lắp đặt đường ống dẫn nước ban đầu khoảng 7.000.000 đồng, hàng năm đóng tiền mua nước là 100.000 đồng/năm.
Việc để các đơn vị tư nhân tự khai thác nước mặt cho mục đích kinh doanh nhưng không xin cấp phép, không thông báo chính quyền địa phương sẽ dẫn đến không được kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước thường xuyên theo quy định, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân cũng như gây thất thoát, thất thu tài nguyên nước. Trong khi đó, theo quy định tại điều 7, điều 8 của Nghị định 54/2024/NĐ-CP cũng quy định, việc khai thác nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp trên 100m3/ngày đêm sẽ phải thực hiện cấp phép.
Được biết, trước thông tin phản ánh của người dân và phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh, ngày 3/7/2026, UBND tỉnh cũng đã có văn bản số 6079/VP.UBND-XDMT giao các cơ quan chức năng, địa phương kiểm tra, đánh giá toàn diện thực trạng tại khu vực phường Vàng Danh để xem xét. Trong trường hợp không phù hợp thì có biện pháp chấn chỉnh và phương án khắc phục phù hợp. Động thái này cho thấy quyết tâm của tỉnh trong việc siết chặt công tác quản lý tài nguyên nước, đồng thời bảo đảm quyền được sử dụng nguồn nước an toàn của người dân.
Câu chuyện và những nghịch lý trong sử dụng nước sạch ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh cho thấy, sau nhiều năm dành nguồn lực mở rộng hạ tầng, bài toán lớn hơn đặt ra là làm thế nào để mỗi hộ dân tin tưởng lựa chọn nguồn nước sạch trong sinh hoạt hằng ngày; đồng thời cần quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác các nguồn nước tự nhiên, bảo đảm an ninh nguồn nước trong dài hạn. Đó là nhiệm vụ không thể chỉ đặt lên vai doanh nghiệp cấp nước, bởi hạ tầng cấp nước có thể được đầu tư bằng nguồn lực tài chính, nhưng xây dựng thói quen sử dụng nước sạch lại cần sự kiên trì tuyên truyền của cả hệ thống chính trị.
Khi chính quyền địa phương thực sự coi việc nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch là một nhiệm vụ quản lý nhà nước gắn với bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ tài nguyên nước, những "vùng lõm" về nước sạch mới có thể được xóa bỏ một cách bền vững. Đó cũng là con đường để những công trình cấp nước phát huy đúng giá trị, góp phần hiện thực hóa mục tiêu mọi người dân đều được tiếp cận và sử dụng nguồn nước an toàn. Xa hơn, đó là quá trình bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ tài nguyên nước và hướng tới một thế hệ tương lai phát triển khỏe mạnh, bền vững.