Nước sạch và câu chuyện thay đổi thói quen sử dụng của người dân - Bài 2: Dùng nước an toàn - Giải pháp bảo vệ sức khỏe bền vững

Nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, nước chiếm khoảng 60-70% trọng lượng cơ thể, tham gia vào mọi quá trình trao đổi chất, giúp hấp thụ dinh dưỡng, đào thải độc tố và duy trì cân bằng nội môi. Tuy nhiên, nhiều nguồn nước hiện nay đang bị ô nhiễm bởi hóa chất, rác thải và vi sinh vật, khiến việc tiếp cận nguồn nước an toàn trở thành vấn đề đáng quan tâm. Mặt khác, việc khai thác nước ngầm tự phát, thiếu kiểm soát cũng sẽ làm suy giảm chất lượng nguồn nước và mất cân bằng hệ sinh thái.

Những nguy cơ không nhìn thấy   

Nhiều năm qua, những chiếc giếng khơi, giếng khoan ở khu Trại Chuối, phường Hoàng Quế, vẫn là nguồn nước sinh hoạt quen thuộc của hàng chục hộ dân. Nguồn nước ấy được sử dụng hằng ngày cho ăn uống, nấu nướng, tắm giặt mà ít ai nghĩ sẽ có vấn đề. Chỉ đến khi nước bắt đầu đổi màu, xuất hiện mùi hôi và cặn lắng, những nghi ngại mới xuất hiện. Giữa tháng 6/2026 vừa qua, nhiều hộ dân khu Trại Chuối đã đồng loạt phản ánh tình trạng bất thường của nguồn nước sinh hoạt tới chính quyền địa phương. Ngay sau đó, UBND phường Hoàng Quế thành lập tổ công tác kiểm tra thực địa, khảo sát hiện trạng và phối hợp với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Quảng Ninh lấy mẫu nước để phân tích.

Phường Hoàng Quế phối với cơ quan chuyên môn lấy mẫu nước tại nhà hộ dân khu Trại Chuối sau khi nhận được phản ánh của các hộ dân. Ảnh: Lan Anh (CTV)
Phường Hoàng Quế phối với cơ quan chuyên môn lấy mẫu nước tại nhà hộ dân khu Trại Chuối sau khi nhận được phản ánh của các hộ dân. Ảnh: Lan Anh (CTV)

Qua khảo sát, tổ công tác ghi nhận khu Trại Chuối hiện có khoảng 60 hộ dân sinh sống, nguồn nước sử dụng chủ yếu được khai thác từ giếng khơi sâu khoảng 8-9m và giếng khoan trên 15m. Trước đây, nguồn nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, chưa ghi nhận rõ các biểu hiện bất thường. Tuy nhiên, khu vực này tồn tại nhiều yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng nước, như: Hoạt động chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư; nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi và nước từ bể tự hoại tại một số hộ vẫn xả ra hệ thống mương chung; nhiều tuyến mương chưa được khơi thông thường xuyên, có đoạn không có nắp đậy, tiềm ẩn nguy cơ tác động đến nguồn nước ngầm.

Việc lấy mẫu nước được CDC Quảng Ninh thực hiện tại 2 hộ dân để đánh giá chất lượng theo quy định. Với phạm vi kiểm tra rộng bao gồm các thông số vi sinh vật, hóa lý, kim loại nặng, chất hữu cơ và các chất gây ô nhiễm khác nên kết quả kiểm nghiệm đầy đủ cần thêm thời gian hoặc gửi cơ quan chuyên môn tuyến trên, song kết quả sơ bộ bước đầu cho thấy một số mẫu nước chưa đạt quy chuẩn về vi sinh và kim loại nặng.

Đây cũng là điều đáng lưu ý. Trong suốt nhiều năm trước đó, các hộ dân vẫn sử dụng nguồn nước này mà không nhận thấy dấu hiệu bất thường bằng cảm quan. Chỉ khi nguồn nước đổi màu, có mùi hoặc xuất hiện cặn lắng, người dân mới cảm thấy lo lắng và nghi ngại về nguy cơ ô nhiễm nguồn nước tự nhiên này.

Cặn vôi do sử dụng nước giếng khoan. (Ảnh chụp tại khu La Dương, phường Đông Triều)
Cặn vôi do sử dụng nước giếng khoan. (Ảnh chụp tại khu La Dương, phường Đông Triều)

Trên thực tế, vào thời điểm kiểm tra, giám sát, cán bộ CDC Quảng Ninh cho biết mẫu nước giếng khoan của cả 2 hộ đều trong, không màu, không mùi, không vị. Điều đó cho thấy những thay đổi về nguồn nước rất khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Đôi khi, các biểu hiện ô nhiễm về cảm quan của nguồn nước chỉ xuất hiện vào một số thời điểm, những thay đổi có thể nhìn thấy bằng mắt thường thường chỉ là biểu hiện ở giai đoạn muộn, trong khi nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đến sức khỏe đã tồn tại từ trước nhưng không dễ nhận biết.

Không chỉ ở khu Trại Chuối, nhiều khu vực khác trên địa bàn phường Đông Triều người dân cũng rất lo lắng khi nước giếng khoan thường xuyên xuất hiện cặn vôi, nhiều vẩn đục. Ông Nguyễn Văn Đông (khu La Dương, phường Đông Triều) cho biết: Nhiều năm qua, người dân sử dụng nước giếng khoan cho sinh hoạt hằng ngày. Nguồn nước này dùng một thời gian ngắn là xuất hiện nhiều cặn vôi, khiến thiết bị sinh hoạt nhanh xuống cấp, chi phí lọc nước và bảo trì tăng cao. Chúng tôi cũng rất lo lắng về sức khỏe. Đầu năm 2026, khi biết Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh đầu tư hệ thống cấp nước về khu phố, tôi đã ngay lập tức đăng ký lắp đặt và sử dụng.

Ông Nguyễn Văn Đông (khu La Dương, phường Đông Triều) vui mừng khi từ tháng 4/2026 đã được sử dụng nước sạch sau nhiều năm chờ đợi.
Ông Nguyễn Văn Đông (khu La Dương, phường Đông Triều) vui mừng khi từ tháng 4/2026 đã được sử dụng nước sạch sau nhiều năm chờ đợi.

Theo quy chuẩn của Bộ Y tế, nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt là nước đã qua xử lý có chất lượng bảo đảm, đáp ứng yêu cầu sử dụng cho mục đích ăn uống, vệ sinh của con người (viết tắt là nước sạch). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước sạch ban hành năm 2024 bao gồm 99 thông số, trong đó có các thông số cảm quan, vi sinh, hóa lý như kim loại: Sắt, mangan, nitrat, thủy ngân, chì, kẽm, các thông số hữu cơ...

Với vai trò là đơn vị thực hiện giám sát chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh, mỗi năm CDC Quảng Ninh kiểm nghiệm trên 3.000 mẫu nước cho các địa phương, doanh nghiệp và hộ gia đình. Song song với việc giám sát định kỳ tại 100% đơn vị cấp nước tập trung theo phân cấp quy định, đơn vị cũng tiếp nhận nhiều mẫu nước từ các hộ dân có nhu cầu kiểm tra chất lượng. 

Qua công tác giám sát, các mẫu nước tại hệ thống cấp nước của Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh (đơn vị cung cấp nước cho số lượng khách hàng lớn nhất tỉnh), đều bảo đảm quy chuẩn chất lượng theo quy định của Bộ Y tế.

Mỗi năm CDC Quảng Ninh kiểm nghiệm trên 3.000 mẫu nước cho các địa phương, doanh nghiệp và hộ gia đình.
Mỗi năm CDC Quảng Ninh kiểm nghiệm trên 3.000 mẫu nước cho các địa phương, doanh nghiệp và hộ gia đình.

Trong khi đó, tại một số khu vực người dân sử dụng nước tự khai thác, CDC Quảng Ninh đã ghi nhận một số mẫu nước sinh hoạt của người dân không đạt các chỉ tiêu chất lượng nước theo quy định. Đơn cử như chỉ số hóa lý là độ pH trong nước giếng khoan ở một số khu vực (Hải Lạng, Hoàng Quế…) đạt thấp, chỉ khoảng 3-4, trong khi độ pH theo tiêu chuẩn từ 6,5-8,5 (độ pH là chỉ tiêu hết sức quan trọng, không chỉ phản ánh tính chất axit, bazơ hay trung tính của nước mà còn cho biết dạng tồn tại và độc chất của rất nhiều chất khác có trong nước...).

Nước ngầm như giếng khoan, giếng đào thường có độ pH thấp hơn so với quy chuẩn, nếu sử dụng lâu ngày sẽ gây suy giảm sức khỏe nghiêm trọng, phá hủy men răng, làm tăng nguy cơ mắc bệnh dạ dày, gút, sỏi thận, đồng thời ăn mòn hệ thống đường ống và thiết bị gia dụng. Bên cạnh đó, nguồn nước tự nhiên khi đưa vào sử dụng mà chưa được khử khuẩn thường có nguy cơ nhiễm các vi sinh vật, trong đó có số vi sinh vật không được phép có trong nước sạch được quy định trong quy chuẩn nước sạch như vi khuẩn coliform, ecoli, tụ cầu vàng,...

Ngoài ra, CDC Quảng Ninh cũng phát hiện các thông số như mangan, cadimi, chì, kẽm, nhôm,... tại một số khu vực đều vượt mức quy chuẩn cho phép.

Qua công tác xét nghiệm tại một số khu vực người dân sử dụng nước tự khai thác, CDC Quảng Ninh đã ghi nhận một số mẫu nước sinh hoạt của người dân không đạt các chỉ tiêu chất lượng nước theo quy định.
Qua công tác xét nghiệm tại một số khu vực người dân sử dụng nước tự khai thác, CDC Quảng Ninh đã ghi nhận một số mẫu nước sinh hoạt của người dân không đạt các chỉ tiêu chất lượng nước theo quy định.

Điều đáng nói là phần lớn những nguồn nước này đều có đặc điểm khá giống nhau, nhìn bằng mắt thường vẫn trong, không phải lúc nào cũng có mùi lạ và vẫn được người dân sử dụng trong thời gian dài. Điều này cũng lý giải vì sao các chuyên gia luôn khuyến cáo người dân không nên đánh giá chất lượng nước chỉ dựa vào màu sắc, mùi vị hay kinh nghiệm sử dụng nhiều năm. Những yếu tố gây ảnh hưởng đến sức khỏe thường không thể nhận biết bằng mắt thường mà chỉ có thể xác định thông qua xét nghiệm và kiểm định chuyên môn. Nói cách khác, một nguồn nước nhìn có vẻ "sạch" chưa chắc đã là nguồn nước an toàn.

Bác sĩ CKI Hoàng Thị Lê, Trưởng khoa Sức khỏe môi trường y tế trường học, CDC Quảng Ninh, cho biết: Những nguồn nước này có thể bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản, chăn nuôi, hóa chất nông nghiệp hoặc do điều kiện địa chất tự nhiên. Bên cạnh đó, hộ gia đình khai thác nước tự nhiên thường không khử khuẩn nên nước sinh hoạt thường nhiễm vi khuẩn. Việc sử dụng nguồn nước không bảo đảm chất lượng trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, bệnh về mắt. Đồng thời, nếu tiếp xúc kéo dài với một số chất ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép có thể ảnh hưởng đến chức năng gan, thận, làm tăng nguy cơ mắc ung thư, gây ảnh hưởng sức khoẻ nghiêm trọng.

Bảo vệ nguồn nước từ những hành động hôm nay

Bên cạnh nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, việc khai thác nước dưới đất một cách tự phát, thiếu kiểm soát còn đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý tài nguyên nước và phát triển bền vững.

Theo Phương án bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trữ lượng nước dưới đất của tỉnh ước khoảng 1,69 triệu m³/ngày đêm. Tuy nhiên, khả năng khai thác không đồng đều do điều kiện địa chất phức tạp, trong khi tại một số khu vực đã ghi nhận tình trạng nước có độ cứng cao hoặc nhiễm hữu cơ cục bộ.

Tại khu 6 (phường Cửa Ông) vẫn còn khoảng 100 hộ dân duy trì thói quen sử dụng nước giếng khoan, thậm chí khu vực này trước đây thuộc vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo quy định của UBND tỉnh và đã được cấp nước sạch tập trung, bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng.
Tại khu 6 (phường Cửa Ông) vẫn còn khoảng 100 hộ dân duy trì thói quen sử dụng nước giếng khoan, thậm chí khu vực này trước đây thuộc vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo quy định của UBND tỉnh và đã được cấp nước sạch tập trung, bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Theo các nghiên cứu khoa học, nếu hoạt động khai thác nước ngầm diễn ra kéo dài và vượt quá khả năng bổ cập tự nhiên (quá trình nước mưa, nước mặt thấm qua đất vào các tầng chứa nước ngầm, mực nước dưới đất) sẽ có xu hướng suy giảm, kéo theo nguy cơ sụt lún nền đất, suy giảm chất lượng nguồn nước và mất cân bằng hệ sinh thái. Đáng lo ngại hơn, khi các tầng chứa nước bị tác động bởi hoạt động khoan, khai thác không đúng kỹ thuật, hiện tượng thông tầng địa chất có thể xảy ra, tạo điều kiện để các nguồn ô nhiễm từ tầng nông lan xuống tầng nước sâu, khiến việc phục hồi nguồn nước trở nên khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều.

Chính vì vậy, Luật Tài nguyên nước năm 2023 xác định tài nguyên nước là nguồn lực thiết yếu đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh môi trường quốc gia. Hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải được quản lý trên nguyên tắc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước và quy hoạch đã được phê duyệt.

Từ ngày 1/7/2026, UBND các xã, phường, đặc khu sẽ thực hiện tiếp nhận kê khai việc khai thác nước dưới đất phục vụ mục đích sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân theo quy định.
Từ ngày 1/7/2026, UBND các xã, phường, đặc khu sẽ thực hiện tiếp nhận kê khai việc khai thác nước dưới đất phục vụ mục đích sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân theo quy định.

Còn tại điều 8 Nghị định 54/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, như sau: Công trình khai thác nước dưới đất của hộ gia đình khai thác nước dưới đất để sử dụng cho sinh hoạt của mình phải thực hiện kê khai. Việc kê khai nhằm cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra những khuyến cáo cho các hộ gia đình về chất lượng nước dưới đất, khu vực có nguy cơ mực nước bị hạ thấp, suy giảm, khu vực bị sụt, lún đất, khu vực có nguồn nước dưới đất gần biên mặn và phục vụ công tác quản lý bảo vệ nước dưới đất. Đây không chỉ là yêu cầu phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn là cơ sở để bảo vệ chính người sử dụng trước những rủi ro có thể xảy ra.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc kê khai khai thác nước dưới đất của các hộ gia đình hiện vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Điều này khiến cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc đánh giá hiện trạng khai thác, dự báo nguy cơ suy giảm nguồn nước cũng như xây dựng các giải pháp quản lý phù hợp.

Bà Nguyễn Thị Nhung, Phó trưởng Phòng Tài nguyên nước - Khoáng sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Việc khai thác nước ngầm quá mức, tự phát, không được kiểm soát có thể làm suy giảm trữ lượng nước dưới đất, hạ thấp mực nước ngầm, gia tăng nguy cơ sụt lún đất và ảnh hưởng đến cân bằng nguồn nước. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ tác động tiêu cực đến môi trường và làm giảm tính bền vững của tài nguyên nước của tỉnh.

Theo bà Nhung, thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị cấp nước tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện đúng các quy định về khai thác tài nguyên nước, đồng thời khuyến khích sử dụng nước sạch tập trung tại những khu vực đã được đầu tư hệ thống cấp nước. Đặc biệt, từ ngày 1/7/2026, UBND các xã, phường, đặc khu sẽ thực hiện tiếp nhận kê khai việc khai thác nước dưới đất phục vụ mục đích sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân theo quy định.

Những ghi nhận từ thực tế cho thấy, câu chuyện sử dụng nước sạch không chỉ dừng lại ở việc mỗi gia đình lựa chọn nguồn nước nào cho sinh hoạt hằng ngày. Đó còn là câu chuyện về trách nhiệm của địa phương trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ tài nguyên nước và gìn giữ nguồn lực cho sự phát triển lâu dài của địa phương. Bởi nếu việc tự khai thác không kiểm soát sẽ gây lãng phí tài nguyên nước, thất thoát, thất thu ngân sách nhà nước, mất an ninh nguồn nước, và phá vỡ quy hoạch cấp nước đã được tỉnh phê duyệt.

Bài 3: Để mở rộng vùng nước sạch

Có thể bạn quan tâm