"Tôi hạnh phúc khi được chứng kiến mỗi bước phát triển đi lên của Vùng mỏ"

Ông Mai Hữu Phần, nguyên Thư ký Công đoàn Công trường Trụ mỏ thuộc Xí nghiệp Than Cẩm Phả nay là Công ty CP Than Đèo Nai - Cọc Sáu, hiện ở khu Nam Tiến, phường Cẩm Phả, là một trong những người vinh dự được gặp Bác Hồ khi Người lên thăm mỏ Đèo Nai năm 1959. Kể từ đó, bảy thập kỷ đã qua, Vùng mỏ đã có nhiều đổi thay. Nhìn lại những năm tháng đã qua, ông Mai Hữu Phần vẫn vẹn nguyên nỗi niềm xúc động.

Trò chuyện với phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Ninh, ông Mai Hữu Phần chia sẻ:

bqn_tr_danh-bat-in00-04-48-00still001.jpg
Ông Mai Hữu Phần.

+ Năm 1950, khi mới 16 tuổi, tôi đã từ biệt quê hương huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (nay là Ninh Bình) theo gia đình ra khu mỏ Hồng Quảng. Ra mỏ hồi đó muốn đi làm phải làm hồ sơ, vì chẳng biết rõ ngày sinh tháng đẻ của mình nên trong bản khai lý lịch của mình, tôi đã chọn ngày Miền mỏ bất khuất (12/11) bây giờ gọi là Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than. Tôi nghĩ, mỗi chúng ta không thể chọn cho mình nơi sinh nhưng được chọn cho mình quê hương mới và ngày sinh rất đặc biệt nên tôi luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống công nhân Vùng mỏ.

Vào thời đó, để kiếm sống và phụ giúp gia đình, hằng ngày, tôi phải đưa cơm cho chủ mỏ lên tầng than cao, rồi đẩy hàng chục lượt xe goòng chở đầy than ra vào mỏ trên các đường trục. Công việc cực nhọc, lương thì thấp, mức khoán giao cao ngất ngưởng, nhiều khi cũng làm tôi phẫn uất muốn bỏ mỏ mà về.

images890605_tr5_anh_2.jpg
Ông Mai Hữu Phần (ngoài cùng bên phải) và gia đình năm 1969. Ảnh do gia đình cung cấp.

- Thưa ông, công việc hồi đó của các phu mỏ như thế nào?

+ Thời đó, công việc thì rất cực khổ mà còn bị bọn chủ mỏ chèn ép, bóc lột đủ điều. Chúng tôi chọn ở lại với mỏ và đã cùng với đồng nghiệp kiên cường đấu tranh chống bọn chủ mỏ sa thải công nhân, chống tăng giờ làm; đòi tăng lương, thêm gạo... Chúng tôi đấu tranh không cho người Pháp di chuyển máy móc trái phép vào miền Nam trong những ngày chờ tiếp quản.

Tôi còn nhớ rõ, trước khi hoàn toàn rời đi, bọn chủ mỏ sa thải hàng loạt phu mỏ, tăng giờ làm, tăng mức khoán, giữ lương, bớt gạo... để làm lung lay tinh thần những người thợ. Các máy móc, thiết bị sẽ được di chuyển trái phép vào miền Nam bằng nhiều hình thức, nếu không chuyển được thì bọn chúng sẽ phá hoại... nhằm gây khó khăn cho chính quyền cách mạng khi vào tiếp quản.

bqn_tr_5a7e73a0efe2e7a0a557c98b35eb79c7.jpg
Ông Mai Hữu Phần, cựu công nhân mỏ Đèo Nai, kể chuyện gặp Bác Hồ năm 1959 cho thế hệ thợ mỏ trẻ.

Trước thủ đoạn ấy của thực dân, những người thợ mỏ đã đoàn kết và liên tục đấu tranh, biểu tình, tạo sức ép lớn để bảo toàn các công trường, nhà xưởng, thiết bị... Một ngày trước khi quân ta về tiếp quản Vùng mỏ, thợ mỏ đã cùng nhau làm những chiếc cổng chào để đón đoàn xe tiến về khu vực trung tâm Cẩm Phả. Người thì tìm gỗ, người tìm tre để làm khung; nhóm khác thì đảm nhận may cờ đuôi nheo, kết vào dây để trang trí... Ai cũng hào hứng và xông xáo với công việc.

Sớm hôm sau, lúc trời còn chưa sáng hẳn, chúng tôi đã có mặt đông đủ ở trước rạp chiếu bóng, hăm hở dựng cổng, kết băng rôn khẩu hiệu, tự hào mừng đón quân giải phóng. Những nụ cười ngày hôm đó, dường như rạng rỡ hơn. Bà con hồ hởi với không khí tiếp quản, quyết tâm xây dựng cuộc sống mới. Nhìn lại những năm tháng đó, tôi thấy rằng truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" càng trong gian khó lại càng được tô thắm, góp phần vào thành công chung của quê hương Quảng Ninh.

bqn_tr_de7a8576mp400-39-16-15still001.jpg
Ông Mai Hữu Phần xem lại những kỷ vật xưa.

- Sau tiếp quản Vùng mỏ 4 năm, ông còn có vinh dự khác khi là nhân chứng lịch sử chứng kiến Bác Hồ về thăm mỏ Đèo Nai. Ông có thể chia sẻ câu chuyện này?

+ Hồi ấy, tôi mới chỉ 23 tuổi, là công nhân chạy trục kéo xe goòng. Vừa tan ca thì thấy quản đốc công trường bảo anh em công nhân đừng về vội, đợi để đón khách. Khi đó, chúng tôi chưa biết khách là ai. Một lúc sau, nhìn ra đường thì thấy có chiếc xe com - măng - ca, nhưng xe không đi thẳng đến chỗ chúng tôi đang đứng, mà dừng lại cách đó khoảng hơn trăm mét.

Trong số những người từ trên xe bước xuống, tôi ngạc nhiên thấy có một ông cụ mặc bộ quần áo nâu, đầu đội mũ cát rộng vành, vai vắt chiếc khăn bông, dáng người cao, gầy mảnh mai... Chúng tôi ngỡ ngàng vì không tin được Bác Hồ lại lên tận đỉnh Đèo Nai heo hút này. Bác bước tới, dáng nhanh nhẹn, tươi cười bảo anh em chúng tôi quây quần lại gần. Được gặp Người, anh em chúng tôi vỡ oà vì sung sướng...

bqn_tr_images890606_tr5_anh_3.jpg
Ông Mai Hữu Phần (giữa) và các cán bộ làm công tác văn hoá của tỉnh, của ngành Than khảo sát, xác định địa điểm năm xưa Bác Hồ về thăm mỏ than Đèo Nai. Ảnh: Phạm Học

- Ông còn nhớ những lời Bác Hồ căn dặn thợ mỏ trên công trường năm xưa?

+ Bác khen công nhân mỏ đã cố gắng trong sản xuất, bảo vệ tốt máy móc. Nhưng Bác cũng thẳng thắn phê bình những khuyết điểm. Bác bảo, trước đây khu mỏ này của thực dân Pháp, công nhân còn là nô lệ bị bóc lột và đàn áp khổ cực. Ngày nay, khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng; để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa.

Chúng tôi lắng nghe lời Bác dặn mà vô cùng xúc động. Sự gần gũi, giản dị từ ánh mắt, nụ cười, giọng nói... của Người toát lên sự ấm áp, hiền từ, khiến cho bất cứ ai cũng có cảm giác tự tin, hoạt bát hẳn lên...

- Đối với riêng ông, những lời Bác dặn đã trở thành nguồn động viên như thế nào?

+ Dẫu chỉ được gặp Bác Hồ trong khoảng thời gian chưa đến một tiếng đồng hồ nhưng quãng thời gian ngắn ngủi ấy vô cùng có ý nghĩa đối với cuộc đời tôi.

Tôi đâu có ngờ rằng mình chỉ là một công nhân bình thường mà lại có vinh dự được gặp Bác. Đó là niềm vinh dự, tự hào, là hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời làm công nhân mỏ của tôi. Sau lần gặp Bác Hồ, tôi quyết định đi học để trở thành một cán bộ công đoàn chuyên trách và gắn bó với công việc này suốt mấy chục năm tại mỏ Đèo Nai.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu tôi cũng làm theo lời Bác dạy và giáo dục con cháu là phải ra sức thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, đặt lợi ích chung lên trên, không vụ lợi hay lãng phí.

Ngay cả khi phải đối mặt với những mất mát, hy sinh tưởng như quá sức chịu đựng do bom đạn Mỹ trút xuống Vùng mỏ, tôi vẫn đứng vững kiên cường, sống có ích đến hôm nay.

- Thưa ông, nếu để làm một phép so sánh về sự đổi thay của ngành Than thời Bác Hồ về thăm với hôm nay, ông có cảm nhận thế nào?

+ Có thể nói là một trời một vực. Thú thực là thời đó chúng tôi không thể tưởng tượng ra nổi sự phát triển vượt bậc như ngày hôm nay. Sự phát triển ấy có được một phần là do ngành Than làm tốt công tác thi đua. Trước đây, chưa có cuộc vận động "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", thì trong ngành Than nói chung và Đèo Nai nói riêng đã có phong trào thi đua giành Cờ Bác. Những năm đầu, mỏ Đèo Nai chúng tôi thi đua phấn khởi lắm và đã giành được Cờ thưởng luân lưu của Bác Hồ.

Các phân xưởng thi đua với nhau để tăng năng suất, hạ giá thành, thi đua cùng lập chiến công của đồng bào ta ở miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Ngụỵ, thống nhất nước nhà. Chúng tôi đã lấy những tiêu đề chiến thắng ở miền Nam để đặt làm tên cho các chiến dịch thi đua sản xuất ở trên khai trường. Từ sản xuất tốt hơn, các mỏ có điều kiện chăm lo đời sống công nhân khá hơn. Thời chúng tôi, toàn ngành Than chỉ sản xuất được vài triệu tấn là đã cố gắng lắm rồi. Bây giờ, sản lượng than lên đến 40-50 triệu tấn mỗi năm. 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là trong 40 năm công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, lớp lớp các thế hệ thợ mỏ Quảng Ninh đã khắc phục khó khăn, vượt qua nhiều chông gai thử thách, hình thành và phát huy tốt truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm". Không chỉ sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc, trong lịch sử thợ mỏ Quảng Ninh còn xung kích tham gia đánh thắng giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

70 năm sinh sống ở Vùng mỏ, chứng kiến những bước ngoặt quan trọng, biết bao sự đổi thay, sự phát triển vượt bậc của Quảng Ninh, nhất là lại được gặp Bác Hồ, tôi tự thấy mình đã có một cuộc đời thật ý nghĩa.

Tôi mong muốn các thế hệ thợ mỏ hôm nay và mai sau luôn khắc ghi và thực hiện tốt những lời dạy của Bác Hồ, tiếp tục phát huy truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" để xây dựng ngành Than thành ngành kinh tế gương mẫu, Quảng Ninh thành tỉnh giàu đẹp như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước.

- Cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn! Chúc ông luôn mạnh khỏe để tiếp tục làm chỗ dựa tinh thần cho con cháu!

Phạm Học (Thực hiện)

Có thể bạn quan tâm