Quảng Ninh đã đầu tư nhiều công trình cấp nước tập trung, góp phần cải thiện đời sống người dân, nhất là tại vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Tuy nhiên, một số công trình hoạt động kém hiệu quả, xuống cấp, ngừng vận hành, chất lượng nước chưa đạt quy chuẩn, đòi hỏi đổi mới quản lý, vận hành để phát huy hiệu quả đầu tư.
Toàn tỉnh hiện có 219 công trình cấp nước tập trung do Nhà nước đầu tư. Trong đó, 75 công trình do các trung tâm cấp nước sạch thuộc UBND cấp xã quản lý, có 72 công trình đang hoạt động, 1 công trình hoạt động kém hiệu quả và 2 công trình đã ngừng hoạt động. Với 144 công trình do các tổ tự quản quản lý, chỉ có 107 công trình đang hoạt động, 37 công trình không hoạt động.
Những con số này cho thấy bài toán đặt ra không chỉ nằm ở việc đầu tư xây dựng công trình, mà còn ở khâu quản lý, duy tu và tổ chức vận hành sau đầu tư. Mô hình quản lý phân tán, nhất là tại các công trình do tổ tự quản đảm nhiệm, trong khi nguồn thu từ tiền sử dụng nước không ổn định, khiến nhiều nơi thiếu nguồn lực để sửa chữa, bảo dưỡng và duy trì hoạt động lâu dài.
Thực tế tại các địa phương cho thấy rõ những bất cập này. Tại xã Ba Chẽ, có tới 19 công trình mà người dân không sử dụng. Nhiều công trình được đầu tư từ nhiều năm trước đã xuống cấp, thiếu kinh phí duy tu, sửa chữa; một số bị ảnh hưởng bởi thiên tai, mưa bão, lũ lụt làm hư hỏng, cuốn trôi đường ống. Trong khi đó, nguồn sinh thủy tại một số khu vực không ổn định, khiến công trình không còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân. Tại đặc khu Vân Đồn, 7/7 công trình cấp nước sạch nông thôn đều không hoạt động. Một số công trình gặp tình trạng nguồn nước bị nhiễm vôi, hệ thống đường ống dẫn nước hư hỏng, vỡ nát, không bảo đảm khả năng cung cấp nước ổn định.
Đáng lưu ý hơn là chất lượng nước tại nhiều công trình chưa đáp ứng yêu cầu. Theo kết quả rà soát, có 52/75 công trình do các trung tâm cấp nước quản lý có chất lượng nước chưa đáp ứng tiêu chuẩn. Đối với các công trình do tổ tự quản quản lý, trong số 98 công trình đang hoạt động được ghi nhận, chất lượng nước đều chưa đáp ứng quy chuẩn. Đây không còn đơn thuần là câu chuyện về hiệu quả khai thác tài sản công, mà liên quan trực tiếp đến an toàn nguồn nước và sức khỏe người dân. Nếu công trình không được duy tu thường xuyên, nguồn nước không được kiểm soát và hệ thống vận hành thiếu ổn định, mục tiêu đưa nước sạch đến người dân sẽ khó đạt được dù nguồn lực đầu tư ban đầu đã được bố trí.
Trước thực tế đó, Quảng Ninh đang chuyển trọng tâm từ đầu tư mới sang nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành các công trình hiện có. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 165/KH-UBND về đầu tư mở rộng mạng lưới cấp nước đô thị năm 2026, đặt mục tiêu tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt trên 95,5%; tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước qua hệ thống tập trung đạt trên 70%. Để thực hiện mục tiêu này, bên cạnh đầu tư nhà máy xử lý nước, các tuyến ống truyền tải và mở rộng mạng lưới, tỉnh đang thúc đẩy việc sắp xếp lại mô hình quản lý các công trình cấp nước tập trung, từng bước giao cho đơn vị có năng lực chuyên môn tiếp nhận, vận hành và đầu tư nâng cấp.
Đến nay, 4 công trình tại Hải Lạng, Đông Hải - Đông Ngũ, Tân Bình và Quảng Minh đã hoàn tất bàn giao cho Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh. Sau khi tiếp nhận, đơn vị đã tổ chức lại công tác vận hành, đồng thời xây dựng phương án cải tạo, nâng cấp và mở rộng mạng lưới.
Tại Hải Lạng, việc chuyển giao càng cho thấy sự cần thiết của mô hình quản lý chuyên nghiệp. Theo ông Lục Văn Long, Chủ tịch UBND xã Hải Lạng, qua kiểm nghiệm 18 mẫu nước giếng và nước khe tại hộ dân, trường học, có 15 mẫu, tương đương 83%, không đạt quy chuẩn nước sạch. Vì vậy, địa phương kỳ vọng việc chuyển giao công trình cho đơn vị chuyên môn sẽ từng bước cải thiện chất lượng và độ ổn định của nguồn nước.
Tuy nhiên, để các công trình hoạt động bền vững, bàn giao cho đơn vị chuyên nghiệp mới chỉ là bước đầu. Cần đồng thời giải quyết các vấn đề về nguồn nước, chất lượng nước, đường ống, điện năng, kinh phí duy tu và cơ chế thu tiền nước. Đây cũng là vấn đề cần được tính toán đối với những địa bàn khó khăn, nơi chi phí đầu tư và vận hành cao nhưng khả năng chi trả của người dân còn hạn chế. Một số địa phương đề xuất tỉnh nghiên cứu chính sách hỗ trợ giá nước sạch cho các hộ dân tại thôn, bản, khu phố thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tập trung vào những địa bàn thực sự khó khăn, tránh hỗ trợ dàn trải. Phương án được đề xuất là thực hiện hỗ trợ trực tiếp thông qua đơn vị cấp nước, bằng hình thức giảm trừ trên hóa đơn tiền nước thay vì chi trả trực tiếp cho người dân qua UBND cấp xã. Cách làm này vừa giúp giảm chi phí sử dụng nước cho người dân, vừa tạo nguồn thu tương đối ổn định cho đơn vị cung cấp, qua đó có thêm điều kiện duy trì vận hành, bảo dưỡng và đầu tư trở lại cho hệ thống.
Với Quảng Ninh, mục tiêu nâng tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch không chỉ là xây thêm công trình, mà trước hết phải khai thác hiệu quả những công trình đã có. Từ cách tiếp cận này, mỗi công trình cấp nước không chỉ được nhìn nhận là một tài sản đã đầu tư, mà phải trở thành một phần của hệ thống hạ tầng thiết yếu được quản lý thống nhất, vận hành ổn định và có khả năng phục vụ lâu dài. Đây cũng là hướng đi cần thiết để Quảng Ninh vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công, vừa từng bước bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch của người dân, nhất là tại những địa bàn còn nhiều khó khăn.