Đoàn ĐBQH thành phố đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết vào các dự án luật

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, ngày 23/10, Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh tham gia thảo luận tổ và cho ý kiến đối với các dự án luật, nghị quyết: Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi); Luật Văn bản quy phạm pháp luật; tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân; Luật Đấu thầu (sửa đổi).

bqn_tr_1792751718005-1862389907601786302-5764565675772671129-823066c4035f90a8e9bc2a391803321f.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận.

Tham gia góp ý đối với dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh đề nghị làm rõ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương 2 cấp; quy định chặt chẽ cơ chế điều chỉnh quy định của luật, pháp lệnh, nghị định trong trường hợp đặc biệt và rút ngắn thời gian thí điểm chính sách.

Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương tại Điều 18 và Điều 19, đại biểu cho rằng cần xác định rõ giới hạn của các biện pháp đặc thù, phân định cụ thể thẩm quyền giữa Chủ tịch UBND và tập thể UBND cấp tỉnh; đồng thời bổ sung thẩm quyền của UBND cấp xã trong tổ chức thi hành nghị quyết của HĐND cùng cấp, bảo đảm chính sách được triển khai thống nhất, hiệu quả, không phát sinh thêm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh.

bqn_tr_1792751718117-1862389907601786302-5764565675772671129-6a5edc462f3dc3c5621514c4c63f6d62.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố, phát biểu thảo luận.

Đối với cơ chế điều chỉnh quy định của luật, pháp lệnh, nghị định trong trường hợp cấp bách, đại biểu đề nghị quy định cụ thể tiêu chí xác định tình huống khẩn cấp, trường hợp Quốc hội không thể họp và phạm vi nội dung được phép điều chỉnh. Đồng thời, cần xác định rõ những nội dung không được áp dụng cơ chế này, nâng cao trách nhiệm xem xét của Quốc hội và dự liệu hệ quả pháp lý khi Quốc hội không chấp thuận.

Về thí điểm chính sách tại Điều 20, đại biểu đề nghị rút ngắn thời gian thí điểm ban đầu xuống không quá 3 năm, thời gian gia hạn không quá 2 năm. Việc gia hạn phải dựa trên kết quả đánh giá cụ thể. Đồng thời, cần quy định rõ các chỉ số đánh giá, thời điểm sơ kết, tổng kết và phương án xử lý khi kết thúc thí điểm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan. Đại biểu nhấn mạnh, thí điểm chính sách phải có thời hạn phù hợp để đánh giá, quyết định việc áp dụng chính thức hoặc chấm dứt, tránh kéo dài quá mức trong bối cảnh khoa học, công nghệ và kinh tế biến đổi nhanh chóng.

bqn_tr_1792731955182-6074166726161259309-g5194130290808953203-1966b8604a2d558c6ee910d014eb7c6c.jpg
Đại biểu Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS thành phố, ĐBQH thành phố phát biểu thảo luận.

Đại biểu Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS thành phố, ĐBQH thành phố bày tỏ đồng tình với việc sửa đổi Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản, đồng thời đề nghị làm rõ cơ chế phối hợp, thẩm quyền quyết định, trách nhiệm bồi thường và hoàn trả tài sản; bảo đảm việc huy động tài sản trong tình huống cấp bách vừa kịp thời, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Từ thực tiễn tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 và khắc phục hậu quả bão Yagi năm 2024 tại Quảng Ninh, đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế điều phối khi nhiều cơ quan cùng có nhu cầu sử dụng một tài sản; xác định trách nhiệm của từng đơn vị trong bàn giao, quản lý, sử dụng, hoàn trả và bồi thường. Đồng thời, cần quy định rõ điều kiện để chính quyền cấp xã chủ động quyết định trong tình huống cấp bách, tránh chậm trễ trong cứu hộ, cứu nạn nhưng vẫn bảo đảm căn cứ pháp lý và khả năng kiểm tra, giám sát.

Về bồi thường, đại biểu đề xuất nghiên cứu cơ chế thanh toán định kỳ hoặc tạm ứng đối với phần thiệt hại đã xác định khi thời gian trưng dụng kéo dài; quy định riêng thời hạn giải quyết bồi thường đối với tài sản bị mất hoặc hư hỏng không thể khôi phục. Việc hoàn trả cần gắn với trách nhiệm kiểm tra an toàn, khôi phục công năng để người dân, doanh nghiệp có thể tiếp tục sử dụng tài sản. Đại biểu cũng đề nghị không lấy việc thiếu chứng từ gốc làm căn cứ duy nhất để từ chối yêu cầu bồi thường trong trường hợp chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc nguyên nhân khách quan; cơ quan nhà nước phải chủ động xác minh và xác định rõ cơ quan kế thừa nghĩa vụ khi có thay đổi về tổ chức.

Đối với thủ tục trưng dụng trong tình huống khẩn cấp, đại biểu đề nghị xây dựng mẫu xác nhận đơn giản, ghi rõ người quyết định, tài sản, thời điểm và đơn vị sử dụng, đồng thời giao người có tài sản giữ một bản làm căn cứ bảo vệ quyền lợi. Cần phân biệt rõ việc tự nguyện hiến, tặng, cho sử dụng tài sản với việc chấp hành quyết định trưng dụng; không suy diễn việc người dân bàn giao tài sản hoặc chưa yêu cầu thanh toán là từ bỏ quyền được bồi thường. Đại biểu cũng đề nghị phân biệt trường hợp chủ tài sản chưa thể nhận lại tài sản do trở ngại khách quan với trường hợp tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu.

Đại biểu nhấn mạnh cần gắn việc huy động tài sản với phương án sử dụng thực tế, bao gồm người vận hành, nhiên liệu, kinh phí, điều kiện an toàn và trách nhiệm khi xảy ra sự cố. Việc xác định mức bồi thường đối với người trực tiếp vận hành phương tiện, người làm nghề tự do hoặc lao động thời vụ cũng cần tính đến thu nhập thực tế, không chỉ dựa vào tiền lương. Ngoài ra, đại biểu đề nghị hoàn thiện dự thảo theo hướng xác định rõ người quyết định, đơn vị sử dụng, cơ quan thanh toán và thời hạn thực hiện nghĩa vụ với chủ tài sản, bảo đảm huy động kịp thời để phục vụ nhiệm vụ cấp bách, đồng thời sử dụng hiệu quả, hoàn trả và bồi thường công bằng, minh bạch.

bqn_tr_1792731955185-6074166726161259309-g5194130290808953203-3106c3d1adaa194a33d37ff5a5fdb62d.jpg
Đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, ĐBQH thành phố, phát biểu tại phiên thảo luận.

Đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, ĐBQH thành phố đề nghị Chính phủ bổ sung đánh giá cụ thể về hiệu quả thực tiễn, tác động và những bất cập trong quá trình thực hiện các nghị quyết được ban hành theo cơ chế đặc thù tại Nghị quyết 206 của Quốc hội, làm rõ những nội dung cần tiếp tục kéo dài, những nội dung đã được luật hóa và những quy định cần chấm dứt. Đại biểu cho rằng, việc đánh giá không nên chỉ dừng ở nhận định định tính mà cần có số liệu, phân loại cụ thể từng nhóm quy định, đồng thời ghi nhận phản hồi của người dân và doanh nghiệp để làm căn cứ quyết định.

Từ thực tiễn triển khai, đại biểu lưu ý một số nghị quyết đã phải tạm ngừng thực hiện do chưa phù hợp, trong khi hậu quả pháp lý đối với các tổ chức, doanh nghiệp phát sinh trong thời gian áp dụng chưa được làm rõ. Việc kéo dài đồng loạt các nghị quyết có thể dẫn đến tình trạng quy định của nghị quyết và luật cùng tồn tại, gây chồng chéo, khó khăn trong áp dụng. Do đó, cần xác định rõ nghị quyết nào tiếp tục có hiệu lực, nội dung nào đã được xử lý bằng luật và nội dung nào cần tiếp tục đánh giá trước khi quyết định kéo dài.

Đối với dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu đề nghị làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh quy định của luật. Đại biểu cho rằng cần xác định cụ thể các trường hợp khẩn cấp, cấp bách, điều kiện Quốc hội không thể họp; đồng thời đánh giá sự cần thiết của cơ chế mới trong tương quan với các cơ chế đặc thù đã có.

Đại biểu cũng nhấn mạnh cần quy định rõ trách nhiệm và hệ quả pháp lý trong trường hợp Quốc hội không chấp thuận việc tiếp tục áp dụng hoặc luật hóa các quy định đã ban hành, nhất là khi những quy định này ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp. Việc xây dựng cơ chế đặc thù phải bảo đảm tính cần thiết, chặt chẽ, phù hợp với Hiến pháp và nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, tránh tạo ra những quy định chồng chéo, thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật.

bqn_tr_1792751718402-1862389907601786302-5764565675772671129-a12f1e1d3ba12a4c3763962fe5dd57e4.jpg
Đại biểu Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ĐBQH thành phố phát biểu thảo luận.

Phát biểu trong phiên thảo luận chiều cùng ngày về các chính sách thuế, đại biểu Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ĐBQH thành phố nhấn mạnh chính sách thuế cần bảo đảm các nguyên tắc đơn giản, hiệu quả, dễ thực hiện, kiểm tra và giám sát. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cơ quan thuế cần từng bước nâng cao khả năng kết nối, khai thác dữ liệu của người nộp thuế, tiến tới quản lý các giao dịch phát sinh hiệu quả hơn.

Đề cập đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động cung cấp suất ăn cho trường học, bệnh viện, đại biểu cho rằng chính sách này hoàn toàn có thể triển khai. Việc xác định phần thu nhập được miễn thuế có thể căn cứ tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cung cấp suất ăn cho các cơ sở giáo dục, y tế trong tổng doanh thu của đơn vị. Cách tính này vừa bảo đảm tính khả thi, giảm chi phí quản lý thuế, vừa tạo điều kiện hỗ trợ học sinh, sinh viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

Đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu duy trì tăng trưởng kinh tế đi đôi với kiểm soát lạm phát, bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Theo đó, các chính sách giảm thuế, hỗ trợ chi phí giáo dục, y tế, phát triển nhà ở xã hội và bảo đảm an sinh cần được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện thu nhập, ổn định đời sống người dân và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

bqn_tr_1792751718287-1862389907601786302-5764565675772671129-a028a71cc1aa686dade7c10bcad2bfbe.jpg
Đại biểu Vũ Ngọc Lâm, Phó Giám đốc Sở Tài chính, ĐBQH thành phố, phát biểu thảo luận.

Đại biểu Vũ Ngọc Lâm, Phó Giám đốc Sở Tài chính, ĐBQH thành phố, đề nghị rà soát, làm rõ khái niệm đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định của các luật thuế, bảo đảm thống nhất với pháp luật về đất đai. Theo đại biểu, cần quy định cụ thể các trường hợp được xác định là đất bỏ hoang, tránh cách hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng chính sách thuế.

Đối với dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), đại biểu cơ bản đồng tình với phương án sửa đổi, đồng thời đề nghị xem xét thời hạn phân bổ chi tiết dự toán ngân sách, nhất là đối với các khoản chi an sinh xã hội thường phát sinh vào cuối năm. Nếu quy định phải hoàn thành trước ngày 30/9, các địa phương có thể gặp khó khăn trong quá trình điều hành ngân sách.

Đại biểu cũng đề nghị bổ sung quy định về các chương trình đầu tư công do cấp tỉnh quyết định nhưng giao cấp xã thực hiện; phân định rõ việc phân bổ vốn theo tiêu chí và vốn bổ sung có mục tiêu, tạo sự chủ động cho địa phương. Đồng thời, cần rà soát thẩm quyền giao dự toán của cơ quan tài chính các cấp; xem xét cho phép chuyển nguồn đối với các dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay nước ngoài do có quy trình, thủ tục phức tạp, phụ thuộc nhà tài trợ.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bỏ khâu trình Thường trực HĐND cho ý kiến trước khi trình HĐND phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương, bởi quy trình này có thể làm phát sinh thêm thủ tục và chưa thống nhất với các quy định hiện hành về tổ chức chính quyền địa phương.

Nguyễn Thanh

Có thể bạn quan tâm