Sau hơn một năm rưỡi triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, Quảng Ninh đã tạo lập những nền tảng về thể chế, hạ tầng số, dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Với những thay đổi trong quản trị, sản xuất và đời sống, thành phố đang hướng tới yêu cầu cao hơn: Đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực nâng cao năng suất, sức cạnh tranh, giải quyết các bài toán phát triển và tạo thêm giá trị cho người dân, doanh nghiệp.
Dây chuyền sản xuất hiện đại, có độ tự động hoá cao tại Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng được kỳ vọng sẽ là một trong những hình mẫu của Quảng Ninh trong việc mở không gian phát triển mới với khoa học công nghệ là động lực chủ chốt.
Trong triển khai Nghị quyết 57, Quảng Ninh đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào quá trình đổi mới mô hình phát triển. Các nhiệm vụ được gắn với hoạt động quản trị, sản xuất, dịch vụ và những nhu cầu thiết yếu của người dân, tạo cơ sở để chuyển chủ trương thành công việc cụ thể.
Năm 2026, địa phương kiện toàn Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06; triển khai Chương trình hành động số 46-CTr/TU, Kế hoạch số 36-KH/TU thực hiện Nghị quyết 57 và Quyết định số 204-QĐ/TW. Cùng với đó là Chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, Chiến lược dữ liệu đến năm 2030, Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, Đề án phát triển thị trường khoa học và công nghệ.
Đến hết tháng 8/2026, Quảng Ninh đã hoàn thành 14/19 nhiệm vụ có thời hạn theo nghị quyết và chỉ đạo của Chính phủ; 24/53 nhiệm vụ theo Kế hoạch số 36-KH/TU. Những kết quả này thể hiện bước chuyển trong tổ chức thực hiện, đồng thời đặt ra yêu cầu theo sát tiến độ, chất lượng và khả năng ứng dụng của từng nhiệm vụ.
Nguồn lực được ưu tiên cho các nền tảng mới. Năm 2026, Quảng Ninh dành 1.439 tỷ đồng, tương đương trên 3% tổng chi ngân sách địa phương, cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến hết tháng 9, hạ tầng viễn thông có khoảng 6.000 trạm BTS, gần 680 trạm 5G, phủ sóng 5G khoảng 94% dân số; 97,74% hộ gia đình sử dụng Internet cáp quang.
Cán bộ Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh giải quyết các TTHC cho người dân, doanh nghiệp trên hệ thống dùng chung liên thông giữa tỉnh với các bộ, ngành trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Nền tảng ấy đang tạo ra những thay đổi có thể nhìn thấy và đo đếm được trong hoạt động quản trị và cung cấp dịch vụ.
Thành phố đã ban hành danh mục 44 cơ sở dữ liệu dùng chung, 63 bộ dữ liệu mở; đưa Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh vào vận hành với 8 hợp phần. Kho dữ liệu dùng chung và nền tảng phân tích dữ liệu đang được xây dựng, mở thêm điều kiện khai thác thông tin phục vụ điều hành và cung cấp dịch vụ.
Ở khu vực doanh nghiệp, khoa học, công nghệ được đưa vào những nhu cầu cụ thể. Tại Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn, nhiệm vụ khoa học và công nghệ với kinh phí hỗ trợ 3,48 tỷ đồng giúp đơn vị nghiên cứu quy trình sản xuất viên mắm khô vị sá sùng, từ đó phát triển thêm nước mắm, bột nêm, cốm sá sùng.
Ông Phạm Quang Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn, chia sẻ: Điều doanh nghiệp nhận được không chỉ là nguồn kinh phí hỗ trợ, mà quan trọng hơn là niềm tin để mạnh dạn đầu tư vào KHCN, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường. Đây cũng là tiền đề để công ty nghiên cứu thực hiện các dự án nhiệm vụ KHCN khác trong thời gian tới.
Các doanh nghiệp của Quảng Ninh trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ Diễn đàn Khởi nghiệp sáng tạo quốc gia lần thứ 7 được tổ chức tại Quảng Ninh.
Quảng Ninh hiện có 35 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; tỷ trọng kinh tế số trong GRDP tăng từ 6,68% năm 2022 lên 7,73% năm 2025. TechHub Quảng Ninh, chương trình CEO Mentoring và các trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từng bước tạo thêm kênh kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, nhà đầu tư, viện nghiên cứu, trường đại học.
Những nền tảng đã hình thành mở ra cơ hội, nhưng hiệu quả phát triển phụ thuộc khả năng khai thác. Một cơ sở dữ liệu cần được sử dụng trong điều hành; công nghệ cần giúp tăng năng suất, giảm chi phí; kết quả nghiên cứu cần được chuyển giao và sản phẩm phải tìm được chỗ đứng trên thị trường.
Với Quảng Ninh, yêu cầu ấy gắn với không gian phát triển đa dạng, đan xen đô thị, biển đảo, miền núi, di sản và công nghiệp. Phát triển kinh tế biển, logistics, dịch vụ, du lịch đặt ra nhu cầu mới về quản trị, đồng thời đòi hỏi bảo vệ tài nguyên, môi trường và tăng khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu.
Các đại biểu tham quan sản phẩm công nghệ tại Diễn đàn khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thành phố Quảng Ninh năm 2026.
Khoa học, công nghệ vì thế cần tham gia sâu hơn vào hoạch định chính sách, quy hoạch và tổ chức sản xuất. Thước đo thực hiện Nghị quyết 57 phải thể hiện trong chất lượng quyết định, hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và mức độ thụ hưởng của người dân.
Một vấn đề cần quan tâm là khả năng tiếp nhận, ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp. Bên cạnh những đơn vị có tiềm lực, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ về chuyển đổi số, nghiên cứu, đổi mới quy trình, tự động hóa, thương mại điện tử và ứng dụng AI phù hợp điều kiện thực tế.
Các doanh nghiệp của Quảng Ninh ngày càng chú trọng đến việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong ảnh: Dây chuyền sản xuất sản phẩm OCOP nước mắm Vân Đồn của Công ty TNHH MTV Newstar.
Sự hỗ trợ cần bắt đầu từ nhu cầu của doanh nghiệp. Hiểu rõ công đoạn nào tốn chi phí, sản phẩm nào cần cải tiến, dữ liệu nào phục vụ quản lý sẽ giúp lựa chọn giải pháp phù hợp. Doanh nghiệp là nơi đặt ra yêu cầu và kiểm chứng hiệu quả, qua đó tạo nhu cầu thực chất cho thị trường khoa học, công nghệ.
Cùng với đó là khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Nếu nhiệm vụ khoa học xuất phát chủ yếu từ khả năng nghiên cứu mà chưa gắn chặt với vấn đề của sản xuất, quản trị và đời sống, kết quả rất khó đi xa. Việc Quảng Ninh chuyển sang xác định các “bài toán phát triển” và phát triển thị trường khoa học, công nghệ vì vậy có ý nghĩa ở chỗ tạo ra một cách tiếp cận khác đó là bắt đầu từ vấn đề thực tiễn, huy động tri thức để giải quyết, sau đó đưa kết quả vào ứng dụng và nhân rộng.
Chia sẻ về nội dung này, ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh, cho rằng: Quảng Ninh có cách tiếp cận tổng thể, có giải pháp phù hợp từng địa bàn, ngành và vấn đề. Gắn khoa học, công nghệ với quy hoạch, quản trị; khai thác dữ liệu cho quyết định phát triển, qua đó góp phần nâng năng lực chống chịu và tạo thêm dư địa tăng trưởng.
Dây chuyền sản xuất có ứng dụng nhiều thành tựu KHCN tại Tổ hợp Gốm Đất Việt.
Để làm được điều đó, dữ liệu phải được chuẩn hóa, cập nhật và có khả năng dùng chung. Tình trạng phân tán theo ngành, lĩnh vực cần được khắc phục để thông tin phục vụ những yêu cầu liên ngành. Đây là điều kiện cho việc ứng dụng AI, Internet vạn vật, mô hình dự báo và bản sao số.
Cùng với dữ liệu là năng lực tổ chức thực hiện. Đến hết tháng 8/2026, kinh phí chi thường xuyên cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của thành phố đạt 24,91% dự toán được phân bổ, trong khi mục tiêu đặt ra là tối thiểu 80% vào cuối quý III. Kết quả tại thời điểm này cho thấy yêu cầu cần tiếp tục thúc đẩy triển khai, đi cùng kiểm soát chất lượng và hiệu quả sử dụng kinh phí.
Các bạn học sinh, sinh viên tham quan, trải nghiệm, tìm hiểu các sản phẩm công nghệ tại Ngày hội STEM HALOU 2026 với chủ đề “Khơi nguồn văn hóa - Bứt phá công nghệ” do Trường Đại học Hạ Long tổ chức.
Nguồn lực cần tập trung vào những nhiệm vụ có khả năng tạo tác động rõ rệt, hạn chế đầu tư phân tán, hệ thống thiếu đồng bộ và phần mềm cục bộ. Trong lựa chọn dự án, khả năng kết nối, vận hành và khai thác lâu dài cần được xem xét cùng với chi phí đầu tư ban đầu.
Việc phát triển đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, lao động kỹ thuật cao và cán bộ quản trị có năng lực số cũng cần gắn với nhiệm vụ cụ thể. Khi người sử dụng hiểu dữ liệu, làm chủ công nghệ và có môi trường phát huy chuyên môn, những nền tảng đã đầu tư mới có thể chuyển thành năng lực phát triển.
Tại Diễn đàn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số năm 2026 tổ chức vào trung tuần tháng 9, yêu cầu giải quyết các bài toán phát triển được đặt ra rõ nét. Những đề xuất về quy hoạch, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu mở thêm hướng huy động tri thức cho quản trị thành phố.
Quy hoạch là một lĩnh vực cần dữ liệu liên thông. Với địa hình trải từ miền núi, trung du đến ven biển, cửa sông, hải đảo, Quảng Ninh cần hệ thống dữ liệu không gian thống nhất. Tích hợp thông tin quy hoạch với đất đai, dân cư, giao thông, hạ tầng, môi trường, đầu tư và thiên tai sẽ tạo cơ sở giám sát, dự báo, cảnh báo chủ động.
Việc nghiên cứu xây dựng bản sao số không gian đô thị cũng mở ra khả năng mô phỏng các kịch bản trước khi quyết định. Công nghệ có thể hỗ trợ xem xét mối liên hệ giữa những yếu tố phát triển, nhưng giá trị phụ thuộc chất lượng dữ liệu và khả năng khai thác của đội ngũ quản lý.
Đối với môi trường, GS.TSKH Hồ Tú Bảo đề xuất xây dựng nền tảng số với dữ liệu địa chất, tài nguyên nước, thảm thực vật; triển khai mạng lưới cảm biến, giám sát vệ tinh và hệ thống dữ liệu không gian thống nhất. Hướng tiếp cận “hệ điều hành xanh - số” nhằm tăng năng lực phát triển và chống chịu dựa trên vốn tự nhiên.
Đề xuất này gắn công nghệ với một yêu cầu lâu dài của Quảng Ninh: Sử dụng hiệu quả tài nguyên trong khi bảo vệ những giá trị làm nên lợi thế địa phương. Dữ liệu môi trường được cập nhật, phân tích có thể tạo thêm căn cứ đánh giá tác động, nhận diện nguy cơ và lựa chọn giải pháp phù hợp.
Các chuyên gia, nhà khoa học đóng góp các ý kiến đi thẳng vào nhiều vấn đề trọng tâm, giải những “bài toán” cụ thể của Quảng Ninh tại Diễn đàn Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số năm 2026.
Sự khác biệt giữa các địa bàn còn đòi hỏi lựa chọn giải pháp có căn cứ. Một mô hình muốn nhân rộng cần được đánh giá qua kết quả thử nghiệm, khả năng vận hành và nguồn lực duy trì. Cách làm này giúp nghiên cứu đến gần nhu cầu quản trị, đồng thời hạn chế áp dụng đồng loạt khi điều kiện chưa phù hợp.
TS. Nguyễn Đắc Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Ứng dụng công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, đề xuất: Quảng Ninh quan tâm cơ chế, không gian thử nghiệm cho mô hình công nghệ và quản lý mới. Qua đó, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học có thể tham gia sâu hơn vào giải quyết những vấn đề của địa phương.
Hội đồng tư vấn cấp thành phố về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nghe thuyết trình và cho ý kiến đóng góp vào Đề án Khu kinh tế số và tri thức tự do Quảng Ninh.
Sự hợp tác cần được nối từ đặt hàng đến nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và thị trường. Cơ quan quản lý tạo hành lang, doanh nghiệp xác định nhu cầu, viện và trường cung cấp tri thức. Khi trách nhiệm và nơi ứng dụng được làm rõ, kết quả khoa học có thêm điều kiện tạo giá trị kinh tế, xã hội.
Quảng Ninh cần lựa chọn trọng tâm ở những lĩnh vực có lợi thế, nhu cầu lớn như kinh tế biển, logistics, công nghiệp, du lịch, đô thị và môi trường. Mỗi bài toán được giải quyết hiệu quả có thể tạo ra sản phẩm, mô hình để tiếp tục hoàn thiện, nhân rộng, hình thành năng lực công nghệ sâu hơn cho địa phương.
Sau hơn một năm rưỡi triển khai, Quảng Ninh đã có những lớp nền quan trọng cho một phương thức phát triển mới. Từ thể chế, nguồn lực đến hạ tầng số, dữ liệu; từ chính quyền, doanh nghiệp đến y tế, giáo dục và đời sống… khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi cụ thể.
Nhưng chặng đường phía trước sẽ được quyết định không phải bởi tốc độ mở rộng nền tảng, mà bởi khả năng biến những nền tảng ấy thành năng suất và giá trị. Đó là quá trình chuyển từ lợi thế tài nguyên sang lợi thế tri thức; từ có dữ liệu sang quản trị bằng dữ liệu; từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ; từ nghiên cứu sang thị trường. Với Quảng Ninh, đây không chỉ là yêu cầu để thực hiện Nghị quyết 57, mà còn là một phần quan trọng của quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, tạo thêm động lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững.
Khi khoa học được đặt trước những bài toán lớn của thực tiễn, công nghệ được lựa chọn theo nhu cầu phát triển, dữ liệu trở thành nền tảng của quyết định và doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học cùng tham gia vào quá trình tạo giá trị, Nghị quyết 57 sẽ được hiện thực hóa không chỉ bằng những con số về hạ tầng hay số hóa, mà bằng những thay đổi có thể đo đếm trong năng suất, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của người dân.
Thực hiện: Minh Hà - Mạnh Trường - Thu Nguyệt - Thanh Tùng
Trình bày: Tất Đạt