Đảm bảo an ninh năng lượng

Vững nguồn an ninh cho tăng trưởng

Giữ ổn định sản xuất than, điện, chủ động nguồn nhiên liệu và đẩy nhanh đầu tư hạ tầng năng lượng là những nhiệm vụ Quảng Ninh đang tập trung thực hiện. Trước yêu cầu tăng trưởng cao, thành phố chú trọng tháo gỡ khó khăn cho các nguồn cung chủ lực, nâng năng lực truyền tải, dự trữ và chuẩn bị điều kiện phát triển các nguồn năng lượng mới, đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống trong những năm tới.

Giữ vững nguồn năng lượng chủ lực

Với vai trò trung tâm sản xuất than, nhiệt điện lớn của cả nước, Quảng Ninh giữ vị trí quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trước nhu cầu điện, nhiên liệu ngày càng tăng, thành phố tập trung duy trì ổn định các nguồn cung hiện hữu, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động khai thác, phát điện và nâng cao khả năng chủ động trước những biến động của thị trường năng lượng.

Theo Sở Công Thương, 9 tháng năm 2026, sản lượng than sạch trên địa bàn đạt 31,963 triệu tấn, trong đó Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đạt trên 28,292 triệu tấn, Binh đoàn 19 đạt 3,620 triệu tấn. Sản lượng điện sản xuất đạt 28,5 tỷ kWh, bằng 81,1% kế hoạch năm; điện thương phẩm đạt 5,648 tỷ kWh. Thành phố duy trì cung cấp điện ổn định, không xảy ra mất điện diện rộng hoặc tình trạng chất lượng điện áp thấp. Những kết quả này tạo điều kiện để các doanh nghiệp duy trì sản xuất, kinh doanh và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân.

bqn_tr_than-ha-lam.jpg
Sản xuất than tại Công ty CP Than Hà Lầm.

Đối với ngành Than, yêu cầu tăng sản lượng đặt ra khi hoạt động khai thác ngày càng xuống sâu, điều kiện địa chất phức tạp, chi phí sản xuất tăng. Các đơn vị đang tập trung đầu tư công nghệ, đẩy mạnh cơ giới hóa, chuẩn bị diện khai thác và nâng năng lực vận tải để duy trì sản xuất an toàn, ổn định. Ở TKV, nhiệm vụ bảo đảm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện tiếp tục được ưu tiên. Trong 9 tháng năm 2026, Tập đoàn cung cấp khoảng 31,69 triệu tấn than cho sản xuất điện. Để đáp ứng nhu cầu này, TKV tăng cường khai thác, chế biến, pha trộn, chủ động cân đối nguồn than trong nước và nhập khẩu; đồng thời tổ chức vận chuyển, giao nhận phù hợp với nhu cầu của từng nhà máy, bảo đảm nguồn nhiên liệu phục vụ phát điện.

Theo ông Nguyễn Huy Nam, Phó Tổng Giám đốc TKV, trong những tháng cuối năm, Tập đoàn tập trung chỉ đạo các đơn vị tăng cường sản xuất, chế biến và tiêu thụ than, ưu tiên bố trí nhân lực cho công tác đào lò, chuẩn bị diện khai thác. Cùng với kiểm soát chất lượng sản phẩm, các đơn vị phải bám sát nhu cầu tiếp nhận của từng nhà máy nhiệt điện để chủ động cân đối nguồn than, tổ chức giao nhận kịp thời, bảo đảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh và nguồn nhiên liệu cho phát điện.

Thực tế tại Công ty Kho vận và Cảng Cẩm Phả cho thấy vai trò của khâu logistics trong chuỗi cung ứng. 9 tháng năm 2026, Kho cảng G9 - Hóa chất tiếp nhận hơn 6,6 triệu tấn than, tiêu thụ trên 6,5 triệu tấn. Đơn vị chủ động xây dựng phương án sản xuất theo ngày, ca, kíp; linh hoạt bố trí kho bãi, thiết bị và phương tiện vận chuyển, bảo đảm tiến độ giao nhận. Hoạt động này góp phần duy trì dòng nhiên liệu ổn định cho các hộ tiêu thụ, đặc biệt là các nhà máy điện.

Để tạo điều kiện cho ngành Than phát triển, Quảng Ninh đang tập trung tháo gỡ những vướng mắc về quy hoạch, cấp phép và thủ tục đầu tư. Tại cuộc làm việc với TKV ngày 17/9/2026 vừa qua, lãnh đạo thành phố cùng các sở, ngành đã trao đổi, giải quyết những khó khăn liên quan quy hoạch khoáng sản, mặt bằng, hạ tầng và hoạt động khai thác. Thành phố đã kiến nghị Chính phủ tháo gỡ khó khăn trong điều chỉnh quy hoạch khoáng sản và thực hiện Nghị quyết số 28/2026/NQ-CP về cơ chế cho phép khai thác than vượt không quá 15% công suất được cấp phép, nhằm tăng nguồn nhiên liệu phục vụ sản xuất điện. Đây là những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng duy trì, nâng sản lượng than trong những năm tới.

bqn_tr_mong-duong.jpg
Trung tâm điều hành sản xuất điện tại Công ty Nhiệt điện Mông Dương.

Cùng với than, Quảng Ninh chú trọng bảo đảm hoạt động ổn định của các nhà máy nhiệt điện tại Uông Bí, Quảng Ninh, Cẩm Phả, Mông Dương. Trong điều kiện nhu cầu phụ tải biến động, các đơn vị phải chủ động nhiên liệu, duy trì độ tin cậy thiết bị, thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa và phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều độ hệ thống điện.

Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Công Thương, Sở tiếp tục theo dõi sát tình hình hoạt động của các nhà máy nhiệt điện, phối hợp tháo gỡ khó khăn và xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với yêu cầu cung ứng điện. Cùng với đó, ngành Công Thương đôn đốc các đơn vị sản xuất than chủ động phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố trong khai thác, chế biến, nhất là trước nguy cơ thiên tai; tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế những yếu tố có thể gây gián đoạn nguồn cung năng lượng.

Thành phố cũng tăng cường quản lý thị trường xăng dầu. Trong tháng 9/2026, dù giá xăng dầu trong nước tăng qua ba kỳ điều hành liên tiếp, Quảng Ninh không ghi nhận tình trạng thiếu hụt nguồn cung cục bộ. Sở Công Thương thường xuyên theo dõi diễn biến thị trường, phối hợp kiểm tra hoạt động kinh doanh và tham mưu giải pháp điều hành khi cần thiết.

Giữ vững nguồn năng lượng chủ lực đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và các đơn vị sản xuất, cung ứng. Việc tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, quy hoạch, đầu tư, cùng những giải pháp nâng năng suất, kiểm soát an toàn và chủ động nhiên liệu đang góp phần củng cố nguồn cung, tạo điều kiện để Quảng Ninh thực hiện mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn mới.

Đồng bộ hạ tầng, mở rộng nguồn năng lượng mới

Cùng với giữ ổn định nguồn cung, Quảng Ninh đang tập trung đầu tư hạ tầng truyền tải, phân phối và dự trữ năng lượng nhằm đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng lớn. Sự phát triển của các khu công nghiệp, khu kinh tế, đô thị và dịch vụ đòi hỏi hệ thống điện phải đủ công suất, vận hành tin cậy, đồng thời có khả năng tiếp nhận thêm những nguồn điện mới trong tương lai.

Thực tế, nhu cầu sử dụng điện trên địa bàn tiếp tục tăng. 9 tháng năm 2026, Công ty Điện lực Quảng Ninh cung cấp hơn 5,65 tỷ kWh điện thương phẩm, tăng 11,15% so với cùng kỳ. Để đáp ứng nhu cầu, đơn vị đã xây dựng mới, cải tạo 77km đường dây trung thế và 163km đường dây hạ thế, góp phần nâng chất lượng cấp điện cho các khu vực sản xuất, dân cư.

bqn_tr_dien-gio.jpg
Phối cảnh Dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1.

Ở cấp truyền tải, nhiều công trình trọng điểm đang được triển khai như: Trạm biến áp 220kV Nam Hòa, Cộng Hòa, Móng Cái cùng các tuyến đường dây đấu nối. Ngày 27/9/2026, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia triển khai thi công Trạm biến áp 220kV Móng Cái tại xã Hải Ninh, quy mô máy biến áp 250MVA. Công trình sẽ tăng năng lực cấp điện khu vực phía Đông, phục vụ tiếp nhận điện nhập khẩu và nâng độ tin cậy vận hành hệ thống.

Dù vậy, giải phóng mặt bằng vẫn là khâu khó trong triển khai một số công trình truyền tải điện. Điển hình, dự án đường dây 220kV Yên Hưng - Nam Hòa dài khoảng 28,5km, đi qua 5 phường, đến tháng 9/2026 mới bàn giao 38/118 vị trí móng cột. Những vướng mắc về xác định nguồn gốc đất, bồi thường, hỗ trợ đang được thành phố chỉ đạo các địa phương phối hợp với chủ đầu tư tập trung tháo gỡ.

Tại phường Hiệp Hòa, riêng ngày 17/10, địa phương tiếp tục chi trả bồi thường cho 11 hộ dân, tiếp nhận khoảng 1.300m² mặt bằng; nhiều vị trí móng cột đã đủ điều kiện bàn giao để thi công. Cùng với đó, thành phố tiếp tục đôn đốc giải phóng mặt bằng dự án đường dây 220kV Hải Hà - Móng Cái, phấn đấu bảo đảm tiến độ các công trình trọng điểm.

Song song với hạ tầng điện, Quảng Ninh phát triển hệ thống dự trữ nhiên liệu. Hiện thành phố có 5 kho xăng dầu đầu mối, thương mại với tổng sức chứa khoảng 336.950m³, cùng mạng lưới 178 cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Theo quy hoạch quốc gia, Quảng Ninh tiếp tục phát triển 5 kho xăng dầu mới với tổng sức chứa 346.000-376.000m³ và một kho LPG quy mô 80.000 tấn. Dự án kho LPG dự kiến đưa vào hoạt động quý IV/2026; góp phần tăng khả năng dự trữ, cung ứng nhiên liệu cho thành phố và khu vực phía Bắc.

Cùng với các nguồn năng lượng trên, Quảng Ninh hiện có 4 dự án năng lượng trọng điểm quốc gia. Trong số đó là dự án Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh, với công suất thiết kế 1.500 MW và tổng mức đầu tư lớn, được kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Đến nay, địa phương đã cơ bản hoàn tất các thủ tục pháp lý liên quan, đồng thời bàn giao 100% mặt bằng sạch với diện tích 41 ha cho nhà đầu tư triển khai dự án. Theo kế hoạch, khi đi vào vận hành trong giai đoạn 2029–2030, nhà máy sẽ cung cấp khoảng 9 tỷ kWh điện mỗi năm cho hệ thống điện quốc gia; góp phần bổ sung nguồn cung, giảm áp lực thiếu hụt điện tại khu vực miền Bắc trong những năm tới.

Tiếp tục mở rộng dư địa phát triển cho ngành năng lượng, ngày 15/10 vừa qua, Chủ tịch UBND thành phố đã làm việc và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với liên danh nhà đầu tư về nghiên cứu triển khai dự án Nhà máy điện LNG Quảng Ninh 2 tại phường Cửa Ông. Dự án có quy mô khoảng 118 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến 1,93 tỷ USD, gồm 2 tổ máy với tổng công suất 1.500 MW, sản lượng điện ước đạt 9 tỷ kWh mỗi năm.

Chủ tịch UBND thành phố Bùi Văn Khắng khẳng định, địa phương cam kết tạo điều kiện thuận lợi, đẩy nhanh các thủ tục hỗ trợ đầu tư; đồng thời yêu cầu các sở, ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với nhà đầu tư, hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh quy hoạch điện và rà soát hệ thống hạ tầng dùng chung giữa các dự án, bảo đảm phù hợp với quy hoạch được phê duyệt.

Song song với việc phát triển các dự án điện khí quy mô lớn, Quảng Ninh xác định chuyển dịch năng lượng xanh là một trong những định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Với tinh thần chủ động thu hút đầu tư, địa phương đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư cho 4 dự án năng lượng sạch, tổng công suất 365 MW, với tổng vốn đầu tư 15.835 tỷ đồng. Trong đó, 3 dự án đã khởi công, có tổng công suất 315 MW và tổng vốn đầu tư 13.471 tỷ đồng.

bqn_tr_b12.jpg
Hệ thống phao quây dầu thường trực tại cầu tàu 5.000 DWT. (Ảnh: Công ty Xăng dầu B12)

Các dự án năng lượng tái tạo tiêu biểu đang được triển khai trên địa bàn gồm: Dự án Điện gió Quảng Ninh 1, công suất 200 MW, tổng vốn đầu tư 7.290 tỷ đồng, khởi công ngày 23/4/2026; Nhà máy Điện mặt trời Đầm Hà, công suất 100 MW, tổng vốn đầu tư 1.638 tỷ đồng, khởi công ngày 19/12/2025; dự án Điện rác tại thành phố Hạ Long, công suất 15 MW, tổng vốn đầu tư 4.543 tỷ đồng, khởi công ngày 19/12/2025. Bên cạnh đó, dự án Nhà máy Điện gió Quảng Ninh 4, công suất 50 MW, tổng vốn đầu tư 2.364 tỷ đồng, đã được chấp thuận chủ trương đầu tư vào tháng 5/2026.

Không chỉ tập trung phát triển các dự án năng lượng quy mô lớn, Quảng Ninh còn khuyến khích mở rộng mô hình điện mặt trời mái nhà theo hình thức tự sản xuất, tự tiêu thụ. Đến nay, tổng công suất điện mặt trời mái nhà đã đưa vào vận hành, phát điện đạt khoảng 55 MW, góp phần đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại chỗ.

Trong năm 2026, Quảng Ninh đặt mục tiêu tiếp tục hoàn thành việc lựa chọn nhà đầu tư cho 9 dự án điện gió, điện mặt trời và thủy điện mới, với tổng công suất dự kiến 670 MW, tổng vốn đăng ký khoảng 21.526 tỷ đồng. Việc đẩy mạnh triển khai các dự án năng lượng truyền thống gắn với phát triển năng lượng tái tạo không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng mà còn tạo động lực thu hút đầu tư, mở rộng không gian phát triển kinh tế và thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững.

Doanh nghiệp chủ động chuyển đổi xanh

Nếu như vài năm trước, điện mặt trời mái nhà còn là giải pháp tương đối mới mẻ thì nay, mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ điện đang dần trở thành xu hướng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Sự chuyển biến này không chỉ đến từ các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo của Nhà nước mà còn xuất phát từ những lợi ích kinh tế thiết thực, nhất là khả năng tiết giảm chi phí điện và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trước yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng cấp thiết, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư công nghệ, tối ưu hóa việc sử dụng điện, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mô hình sản xuất bền vững.

bqn_tr_nam-phat.jpg
Điện mặt trời mái nhà tại Công ty Cổ phần Đóng tàu và Vận tải biển Nam Phát.

Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đóng mới, sửa chữa tàu thuyền và vận tải biển nội địa, Công ty CP Đóng tàu và Vận tải biển Nam Phát (phường Hà An) đã đưa vào sử dụng hệ thống điện mặt trời mái nhà từ tháng 3/2025, với tổng công suất khoảng 2.700 kWp, đáp ứng gần 40% nhu cầu điện của toàn hệ thống. Không chỉ giúp tiết giảm chi phí sản xuất, hệ thống còn góp phần giảm hấp thụ nhiệt cho các nhà xưởng, nâng cao hiệu quả vận hành và bổ sung nguồn điện sạch tại chỗ, đặc biệt trong những tháng cao điểm nắng nóng.

Ông Nguyễn Văn Phú, Phó Giám đốc Công ty CP Đóng tàu và Vận tải biển Nam Phát, cho biết: Đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, tính ổn định và độ tin cậy của nguồn điện là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Với đặc thù sử dụng nhiều thiết bị công nghệ công suất lớn như máy hàn, máy đúc, chất lượng nguồn điện đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gia công sản phẩm cũng như tiến độ giao hàng.

Vì vậy, bảo đảm nguồn điện ổn định là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp duy trì hiệu quả sản xuất và uy tín với khách hàng. Đây cũng là một trong những lý do chúng tôi quyết định đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà, vừa chủ động bổ sung nguồn điện phục vụ sản xuất, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

bqn_tr_ngan-long.png
Hệ thống điện mặt trời tại Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Ngân Long (KCN Hải Yên)

Tại Khu công nghiệp Hải Yên, Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Ngân Long chuyên sản xuất sợi dệt phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu đã triển khai đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà từ tháng 9/2025. Đến nay, hàng nghìn tấm pin mặt trời đã được lắp đặt trên mái 5 nhà xưởng, từng bước hình thành nguồn điện sạch phục vụ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Theo lãnh đạo công ty, trong quá trình hợp tác, các đối tác quốc tế thường xuyên cử đoàn đến kiểm tra nhà máy, đặc biệt chú trọng việc sử dụng năng lượng, hiệu quả tiết kiệm điện và các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính. Đây cũng là một trong những động lực thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư khoảng 150 tỷ đồng lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà với công suất gần 20 MW.

Không chỉ góp phần chủ động nguồn điện tại chỗ, hệ thống còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Khi hệ thống đi vào vận hành, nguồn điện mặt trời đáp ứng khoảng 8–10% tổng nhu cầu điện của nhà máy, giúp doanh nghiệp tiết kiệm trung bình 5–6 tỷ đồng mỗi tháng, góp phần giảm đáng kể chi phí sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp trong khu công nghiệp là nhà cung ứng cho các đối tác tại châu Âu và Bắc Mỹ - những thị trường đang siết chặt các tiêu chí về phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm phát thải trong chuỗi cung ứng. Theo đó, không chỉ các doanh nghiệp sản xuất mà cả chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp cũng đang đẩy mạnh triển khai các dự án năng lượng xanh nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Việc ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư điện mặt trời mái nhà cho thấy nhu cầu sử dụng năng lượng sạch đang gia tăng. Bên cạnh lợi ích giảm chi phí tiền điện, nguồn điện tại chỗ còn giúp doanh nghiệp chủ động một phần nhu cầu năng lượng, giảm phụ thuộc vào điện lưới trong giờ nắng và từng bước đáp ứng các yêu cầu về môi trường từ đối tác, khách hàng quốc tế. Thực tế cho thấy, chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu, đồng thời mở ra cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Chủ động bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn tạo dư địa cho Quảng Ninh phát triển ổn định, lâu dài. Đây cũng là cơ sở để nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và yêu cầu phát triển bền vững.

Thanh Hằng - Thu Trang

Có thể bạn quan tâm