Từ Vùng mỏ đến thành phố Quảng Ninh

Từ những chiến thắng Bạch Đằng ghi dấu trong lịch sử dân tộc, đến truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” được hun đúc qua phong trào công nhân Vùng mỏ, Quảng Ninh đã trải qua một hành trình dài để tạo dựng bản sắc và bản lĩnh riêng. Những giá trị ấy được tiếp nối qua từng chặng đường phát triển, trở thành nền tảng để vùng đất Đông Bắc chuyển mình mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới, vươn lên với diện mạo của một thành phố hiện đại, năng động, giàu bản sắc hôm nay.

Những bước ngoặt lịch sử

Dựa vào thế “tựa sơn, hướng bể”, Quảng Ninh án ngữ ở vị trí cửa ngõ tiền tiêu, phên giậu vùng Đông Bắc của Tổ quốc, có vị trí trọng yếu về địa chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Hệ thống sông ngòi, cửa biển, đảo ven bờ đan xen, không chỉ tạo nên một không gian sinh tồn trù phú, mà còn hình thành một địa bàn quân sự hiểm yếu, nơi nhiều triều đại lựa chọn để dựng thế trận giữ nước. Chính trên vùng đất ấy, dòng sông Bạch Đằng đã 3 lần đi vào lịch sử dân tộc như biểu tượng bất diệt của ý chí độc lập và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Năm 938, Ngô Quyền với trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng đã đánh tan quân Nam Hán, mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài của dân tộc. 43 năm sau, năm 981, Lê Đại Hành tiếp tục lựa chọn Bạch Đằng làm chiến địa, đánh bại quân Tống, bảo vệ nền độc lập non trẻ của quốc gia Đại Cồ Việt.

Đỉnh cao của nghệ thuật quân sự ấy được khẳng định vào mùa xuân năm 1288, khi Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Đại Việt tiêu diệt đoàn thủy binh hùng mạnh của đế quốc Nguyên Mông trên chính dòng sông này, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, tạo nên một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Nếu Bạch Đằng giang tượng trưng cho ý chí và sức mạnh giữ nước, thì hơn 6 thế kỷ sau, vùng đất Quảng Ninh lại ghi thêm một dấu son trong lịch sử dân tộc bằng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân mỏ. Cuộc Tổng bãi công ngày 12/11/1936 của hơn 3 vạn thợ mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả không chỉ là một sự kiện tiêu biểu của phong trào công nhân Việt Nam, mà còn tạo nên truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" và giá trị tinh thần đã vượt ra khỏi phạm vi của ngành Than để trở thành bản sắc văn hóa của Quảng Ninh.

Chính trên nền tảng lịch sử và văn hóa ấy, ngày 30/10/1963, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa II đã thông qua Nghị quyết hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của mảnh đất vùng Đông Bắc. Việc hợp nhất đã đưa toàn bộ vùng than Hòn Gai - Cẩm Phả, hệ thống cảng biển, các đô thị công nghiệp, vùng biên giới Móng Cái, khu vực miền núi Bình Liêu, Tiên Yên, cùng hơn 250km bờ biển và hàng nghìn hòn đảo được đặt trong một chỉnh thể thống nhất. Không gian phát triển mới ấy đã đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành một Việt Nam thu nhỏ hội tụ đầy đủ tiềm năng, thế mạnh mà không phải địa phương nào cũng có được.

Có thể nói, chính quyết định hợp nhất năm 1963 đã tạo ra "không gian phát triển" cho Quảng Ninh và những thành tựu của tỉnh trong nhiều thập niên sau đều ít nhiều bắt nguồn từ nền tảng ấy.

Đối với những người đã gắn bó trọn đời với vùng đất này như ông Đàm Hiển (phường Hồng Gai) ký ức về ngày thành lập tỉnh Quảng Ninh vẫn luôn vẹn nguyên niềm tự hào. Ông Đàm Hiển cho biết: Dù đã ngoài 90 tuổi, nhưng tôi vẫn nhớ rõ không khí rộn ràng của những ngày lịch sử ấy. Lúc đó tôi đang công tác tại Bưu điện Quảng Ninh. Sau khi Quốc hội công bố việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh và tên tỉnh do Bác Hồ đặt thì ai cũng reo hò, vui sướng. Mọi người đều quyết tâm phải phấn đấu lao động và học tập cho xứng đáng với niềm kỳ vọng của Bác khi đã đặt tên cho tỉnh Quảng Ninh với ý nghĩa là một vùng đất rộng lớn, yên bình.

Trong gian khó, truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" của Vùng mỏ tiếp tục được hun đúc, trở thành giá trị văn hóa đặc trưng của Quảng Ninh. Giai đoạn 1963-1975, nhân dân Quảng Ninh vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc, chi viện cho sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, khẳng định vai trò của một trung tâm công nghiệp khai thác than và sản xuất nhiệt điện lớn nhất miền Bắc gắn với phong trào công nhân sôi động.

Giai đoạn 1975-1986, trong điều kiện cơ chế kế hoạch hoá và có chiến tranh bảo vệ biên giới, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định là trung tâm công nghiệp khai khoáng và nhiệt điện lớn của đất nước, bước đầu hình thành các ngành kinh tế biển, kinh tế rừng, kinh tế nông thôn sản xuất nhỏ, làm tròn nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới cả trên bộ và trên biển.

Trong giai đoạn 1986-2010, Quảng Ninh tiến hành công cuộc đổi mới, hình thành nhiều ngành nghề và cơ cấu xã hội đa dạng gắn với chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là từ sau khi vịnh Hạ Long được UNESCO vinh danh là Di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994) đã mở ra cơ hội mới cho phát triển du lịch; kinh tế Cửa khẩu Móng Cái cũng từng bước khẳng định vai trò là một trong những đầu mối giao thương lớn nhất phía Bắc.

2542293-wtm-c5a1bdf8cc1af3ac5c5d945186e3004e.jpg
Vẻ đẹp bình yên của Công viên hoa Hạ Long. Ảnh: Đỗ Giang

Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, mô hình phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên bộc lộ những hạn chế. Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010-2015, xác định chủ trương chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Đây là một quyết định có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Quảng Ninh trong những năm sau đó.

Từ một nền kinh tế gắn chặt với than, Quảng Ninh tập trung đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư; phát triển du lịch, dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo, kinh tế biển và kinh tế cửa khẩu. Những năm tiếp theo đánh dấu một giai đoạn đầu tư hạ tầng quy mô lớn và những bứt phá trong cải cách hành chính, xây dựng môi trường đầu tư của tỉnh. Từ đó, diện mạo phát triển giữa các khu vực cũng có những chuyển biến rõ nét.

Khu vực phía Tây ngày càng gắn kết với Hải Phòng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong đó Quảng Yên trở thành địa bàn thu hút mạnh đầu tư công nghiệp. Hạ Long tiếp tục phát huy vai trò trung tâm về du lịch, dịch vụ và đô thị. Vân Đồn có thêm điều kiện để khai thác các tiềm năng về biển, đảo. Móng Cái được kết nối thuận lợi hơn với các trung tâm kinh tế trong tỉnh và tiếp tục phát huy vai trò cửa ngõ giao thương.

1.jpg
Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn - sân bay tư nhân đầu tiên trong cả nước.

Từ nền tảng đến vị thế mới

Đến năm 2025, Quảng Ninh đã có sự thay đổi đáng kể so với thời điểm mới thành lập tỉnh. Quy mô nền kinh tế được mở rộng, cơ sở hạ tầng được đầu tư tương đối đồng bộ, hệ thống đô thị có bước phát triển, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao. Địa phương tiếp tục duy trì vị trí trong nhóm các tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng và thu ngân sách cao của cả nước.

Quan trọng hơn, Quảng Ninh đã từng bước vượt qua sự phụ thuộc vào một ngành kinh tế. Năm 2025, GRDP của Quảng Ninh tăng 11,89%, cao nhất toàn quốc; quy mô nền kinh tế đạt 368.445 tỷ đồng, xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 10.402 USD, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Tổng thu NSNN lần đầu tiên đạt 84.500 tỷ đồng, đứng thứ 6 trong cả nước; ngành du lịch đón 21,28 triệu lượt khách, doanh thu đạt khoảng 57.000 tỷ đồng.

Trong Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quảng Ninh cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Lào Cai được xác định thuộc một trong 2 vùng động lực phát triển kinh tế của cả nước; đồng thời, khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh được định hướng trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế. Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn xác định Quảng Ninh thuộc vùng đô thị Hà Nội, là đô thị trung tâm của vùng Đồng bằng sông Hồng.

Trong quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng, định hướng đối với Quảng Ninh cũng đã được xác định rõ: Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị biển - du lịch - di sản - cửa ngõ quốc tế, gắn với vùng động lực Hà Nội - Bắc Ninh - Quảng Ninh - Hải Phòng, có vai trò lan tỏa tới khu vực biên giới Việt - Trung và vùng vịnh Bắc Bộ.

Những định hướng đó phản ánh một thực tế là vai trò của Quảng Ninh ngày nay đã vượt ra ngoài phạm vi của một địa phương.

Trong khi đó, quy mô và chất lượng phát triển của Quảng Ninh cũng đã có những thay đổi căn bản. Những kết quả tăng trưởng năm 2025 cho thấy Quảng Ninh không chỉ duy trì tốc độ phát triển cao, mà đã trở thành một trong những động lực quan trọng của cả vùng.

Tuy nhiên, chính sự phát triển đó cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với mô hình tổ chức và quản trị. Khi quy mô nền kinh tế lớn hơn, mức độ đô thị hóa cao hơn và các hoạt động kinh tế ngày càng có sự liên kết giữa các địa bàn, cách quản lý theo từng khu vực, từng địa giới hành chính sẽ khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu điều phối chung. Những vấn đề như phát triển hạ tầng, quy hoạch không gian, quản lý đô thị, bảo vệ môi trường, liên kết các khu kinh tế, hay thu hút nguồn lực chất lượng cao đều đòi hỏi một phương thức quản trị phù hợp hơn với quy mô phát triển mới.

quocthang-tu-vung-mo-den-thanh-pho-quang-ninhmp4-snapshot-0405722.jpg
Quảng Ninh hiện là điểm đến của những sự kiện văn hóa, thể thao tầm cỡ.

Có thể thấy, sau hơn 6 thập niên xây dựng và phát triển, đặc biệt qua quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, đầu tư hạ tầng và mở rộng không gian kinh tế, Quảng Ninh đã hình thành những điều kiện mới cả về quy mô kinh tế, trình độ phát triển, hệ thống đô thị và vai trò trong liên kết vùng. Chính từ thực tiễn đó, Trung ương đã xác định chủ trương phát triển một số địa phương đủ điều kiện trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã thống nhất chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh.

Tại Tờ trình số 491/TTr-CP ngày 5/8/2026 của Chính phủ gửi Quốc hội về việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương đã nêu rõ, việc thành lập thành phố Quảng Ninh là bước chuyển từ mô hình chính quyền địa phương ở nông thôn sang chính quyền địa phương ở đô thị. Đồng thời tạo tiền đề để tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng tích hợp, chuyển từ tổ chức không gian phân tán sang một hệ sinh thái đa trung tâm, mở và có tính liên kết cao hơn.

Với sự chuẩn bị kỹ càng, công phu về chủ trương, hồ sơ và các điều kiện cần thiết, chiều 24/8, Quốc hội đã chính thức bấm nút thông qua việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.

ĐBQH Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, chia sẻ: "Các ĐBQH đã thảo luận rất kỹ Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh. Với vị thế là địa phương trong tốp 5 của cả nước, khi trở thành thành phố thì vai trò tác động, lan toả của Quảng Ninh đối với vùng và cả nước là hết sức rõ ràng, nhất là những địa phương lân cận nằm trên trục cao tốc Hà Nội - Hải Phòng. Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh không đơn thuần là đổi tên, mà đây sẽ là bước khởi đầu cho mô hình quản trị mới. Từ dấu mốc lịch sử này, Quảng Ninh có thêm những điều kiện để tiếp tục giải quyết bài toán phát triển của một không gian rộng lớn, đa dạng và có vai trò ngày càng quan trọng đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, cũng như cả nước. Chúng tôi xin được chúc mừng Quảng Ninh".

Nhìn lại hành trình hơn 6 thập kỷ qua, có thể tin rằng mỗi bước phát triển của Quảng Ninh đều được chuẩn bị từ rất sớm bằng những quyết sách mang tầm nhìn chiến lược. Và chính điều đó đã tạo nên niềm tin để vùng đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc tiếp tục viết nên những chương mới trong hành trình phát triển.

Hoàng Nga

Có thể bạn quan tâm