Mở hướng vận tải khách công cộng bằng xe buýt điện

Với mạng lưới 5 tuyến xe buýt nội tỉnh, 1 tuyến liên tỉnh và sản lượng vận chuyển bình quân khoảng 2,5 triệu lượt khách/năm, mạng lưới vận tải hành khách công cộng của Quảng Ninh bước đầu đã đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và kết nối các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay 100% xe buýt nội tỉnh vẫn sử dụng nhiên liệu hóa thạch và tỷ lệ đảm nhận mới khoảng 3% nhu cầu đi lại. Do đó, yêu cầu đổi mới phương tiện, nâng chất lượng dịch vụ và chuyển đổi sang năng lượng xanh đang đặt ra ngày càng cấp thiết, phù hợp với định hướng phát triển giao thông hiện đại, bền vững của Quảng Ninh.

Những bất cập từ vận tải khách công cộng

Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao thông, giảm ùn tắc giao thông và bảo vệ môi trường. Mạng lưới vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh từng bước được hình thành, kết nối các khu vực trung tâm đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch và các địa phương trong tỉnh.

bqn_tl_xe-buyt-1.jpg
Xe buýt là lựa chọn của nhiều người dân Quảng Ninh.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đang khai thác 5 tuyến xe buýt nội tỉnh và 1 tuyến xe buýt liên tỉnh. Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt gồm 719 điểm dừng đón, trả khách và 121 nhà chờ xe buýt. Tổng số phương tiện đang hoạt động trên các tuyến xe buýt nội tỉnh là 122 xe, 100% sử dụng nhiên liệu hóa thạch; ngoài ra có 16 phương tiện hoạt động trên tuyến xe buýt liên tỉnh. Giai đoạn 2020-2025, sản lượng vận chuyển hành khách bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh đạt bình quân khoảng 2,5 triệu lượt hành khách/năm.

Chị Đinh Thị Minh, khu phố Cộng Hoà, phường Hiệp Hòa, cho biết: “Hàng ngày tôi bán hàng tại chợ Hạ Long II nên thường xuyên đi xe buýt tuyến Hòn Gai - Quảng Yên. Tôi thấy đi xe buýt rất tiện, không phải tự đi xe máy, đỡ lo đường sá, thời tiết. Xe chạy đều, có điểm đón, trả khách phù hợp, giá cả hợp lý, nhất là với người thường xuyên phải đi - về như tôi”.

bqn_tr_xe-buyt-2.jpg

Một số ý tưởng thiết kế vị trí điểm dừng, nhà chờ mẫu của các tuyến xe buýt điện phục vụ học sinh.

Thực tế cho thấy, hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt đã góp phần đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, đặc biệt đối với học sinh, sinh viên, công nhân lao động và các đối tượng có nhu cầu đi lại thường xuyên. Đồng thời, hỗ trợ kết nối giữa các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch và các địa phương trong tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ đảm nhận của vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt hiện mới đạt khoảng 3% nhu cầu đi lại, còn thấp so với yêu cầu phát triển hệ thống giao thông bền vững và mục tiêu nâng cao tỷ lệ sử dụng vận tải hành khách công cộng theo định hướng của Chính phủ.

Một trong những điểm nghẽn hiện nay là hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ xe buýt chưa đồng bộ. Một số điểm dừng, nhà chờ, điểm đầu cuối và các công trình hạ tầng phục vụ vận hành xe buýt chưa đáp ứng yêu cầu khai thác, chưa tạo được sự thuận tiện và sức hấp dẫn đối với người dân khi sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng. Cùng với đó, hiện nay, các tuyến xe buýt trên địa bàn tỉnh đang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp tự bảo đảm kinh phí, không được ngân sách nhà nước hỗ trợ. Sau tác động kéo dài của dịch Covid-19, cùng với sự cạnh tranh của các loại hình vận tải khác và phương tiện cá nhân, sản lượng hành khách và doanh thu vận tải chưa phục hồi như kỳ vọng, trong khi chi phí nhiên liệu, nhân công, bảo dưỡng phương tiện và các chi phí đầu vào khác ngày càng tăng, gây nhiều khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải bằng xe buýt.

Trong khi đó, việc hỗ trợ đầu tư phương tiện, kết cấu hạ tầng, hoạt động khai thác tuyến và thực hiện chính sách miễn, giảm giá vé cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội chưa có cơ sở pháp lý và nguồn lực bảo đảm để triển khai. Điều này làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư, mở rộng mạng lưới tuyến và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên địa bàn tỉnh.

Mặt khác, phần lớn xe buýt được đầu tư từ nhiều năm trước, nay đã xuống cấp, chất lượng phục vụ giảm dần theo thời gian khai thác. Trong khi đó, việc đầu tư thay thế bằng xe buýt điện hoặc phương tiện sử dụng năng lượng xanh đòi hỏi nguồn vốn lớn, vượt quá khả năng cân đối của nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã vận tải. Đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa có tuyến xe buýt sử dụng điện hoặc năng lượng xanh được đưa vào khai thác.

Những chuyến xe xanh đến trường

Trước những hạn chế về phương tiện, hạ tầng và hiệu quả khai thác, Quảng Ninh đang từng bước tìm hướng đi mới cho vận tải hành khách công cộng, trước mắt là xây dựng chính sách hỗ trợ đưa đón học sinh bằng xe buýt điện. Chủ trương này nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo người dân, đặc biệt là phụ huynh học sinh.

Theo khảo sát của Sở Xây dựng, có tới 96,64% phụ huynh trong số 126.077 người tham gia khảo sát bày tỏ nhu cầu và mong muốn được tỉnh hỗ trợ dịch vụ đưa, đón học sinh bằng xe buýt. Kết quả khảo sát cũng cho thấy nhu cầu đi lại bằng xe buýt của học sinh khá lớn. Khoảng 73,4% học sinh có khoảng cách từ nơi ở đến trường từ 1km trở lên, tương đương khoảng 213.980 học sinh. Trong khi đó, khoảng 58,8% trường học thường xảy ra ùn tắc cục bộ vào giờ cao điểm; hoạt động đưa đón học sinh bằng phương tiện cá nhân được xác định chiếm khoảng 61,8% nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng này.

bqn_tr_word-2zoutu-3.jpg

Tuyến xe buýt Vân Đồn - Bãi Cháy kết nối các khu vực dân cư, đô thị, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân.

Mới đây, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2662/QĐ-UBND phê duyệt Đề án đưa đón học sinh đến trường bằng xe buýt điện trên địa bàn các phường Hạ Long, Hồng Gai và Hà Tu, tỉnh Quảng Ninh năm học 2026-2027. Đồng thời, xây dựng chính sách hỗ trợ đưa đón học sinh đến trường bằng xe buýt điện trên địa bàn các phường này trong năm học tới. Dự kiến, chính sách hỗ trợ chi phí vận hành đối với 50 xe buýt điện tham gia đưa đón học sinh trong 9 tháng của năm học, với mức hỗ trợ bình quân khoảng 105 triệu đồng/xe/tháng, tương ứng tổng nhu cầu kinh phí khoảng 47,25 tỷ đồng/năm học.

Cùng với hỗ trợ chi phí vận hành, dự kiến tỉnh hỗ trợ một phần lãi suất vay vốn đầu tư phương tiện xe buýt điện, bằng 70% số tiền lãi vay thực tế phải trả đối với các khoản vay đầu tư phương tiện phục vụ đưa đón học sinh. Đây là giải pháp nhằm chia sẻ một phần chi phí đầu tư ban đầu, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia chuyển đổi phương tiện theo hướng xanh.

Chị Nguyễn Thị Hoa, phường Hồng Gai, cho biết: “Con tôi học Trường THCS Trọng Điểm, cách nhà khoảng 7km, cháu mới học lớp 7 nên ngày nào gia đình cũng phải bố trí người đưa đón. Công việc của bố mẹ có hôm bận, việc đưa đón vì thế khá bất tiện. Khi biết tỉnh có chủ trương hỗ trợ đưa đón học sinh bằng xe buýt điện, tôi rất đồng tình và đăng ký ngay. Nếu có xe buýt đưa đón theo tuyến cố định, các cháu được đi lại an toàn, thuận tiện, phụ huynh cũng giảm được áp lực đưa đón hằng ngày. Hiện nhà trường đang triển khai các nội dung cụ thể để tổ chức đưa đón học sinh bằng xe buýt, tôi rất mừng và mong mô hình sớm được triển khai ổn định”.

Việc đưa xe buýt điện vào phục vụ đưa đón học sinh cũng có ý nghĩa như một bước thử nghiệm mô hình giao thông công cộng xanh trong thực tế. Khi thay thế một phần phương tiện cá nhân vào các khung giờ cao điểm, xe buýt điện có thể góp phần giảm lượng khí thải, tiếng ồn, giảm mật độ phương tiện quanh khu vực trường học và trên những tuyến đường có lưu lượng giao thông lớn. Quan trọng hơn, việc hình thành thói quen sử dụng phương tiện giao thông công cộng từ học sinh có thể tạo tác động lan tỏa đến gia đình và cộng đồng. Đây là một trong những cách để giao thông xanh dần trở thành lựa chọn thường nhật, thay vì chỉ dừng ở việc thay đổi loại phương tiện.

Từ chính sách đưa đón học sinh bằng xe buýt điện, yêu cầu đặt ra tiếp theo là mở rộng mô hình phù hợp với từng khu vực, từng nhóm đối tượng và từng tuyến có nhu cầu đi lại lớn. Quá trình này cần được thực hiện đồng bộ với cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới phương tiện, nâng cấp hạ tầng và tổ chức lại mạng lưới tuyến.

Tạo nền tảng cho giao thông đô thị hiện đại

Phát triển vận tải công cộng và chuyển đổi năng lượng xanh đang là hai yêu cầu gắn chặt với nhau trong quá trình phát triển giao thông hiện đại. Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải.

Với Quảng Ninh, yêu cầu này càng rõ nét khi tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao, là trung tâm du lịch quốc gia, đồng thời có hệ thống đô thị, khu công nghiệp và các tuyến giao thông liên kết ngày càng phát triển. Nhu cầu đi lại tăng nhanh đặt ra yêu cầu tổ chức lại giao thông theo hướng giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân, tăng năng lực vận tải công cộng và giảm phát thải từ hoạt động giao thông.

Từ yêu cầu đó, Đề án phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2030 xác định định hướng phát triển mạng lưới xe buýt theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường, nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận của người dân. Chuyển đổi phương tiện từ nhiên liệu hóa thạch sang điện, năng lượng xanh vì vậy không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là một bước nâng cao chất lượng giao thông công cộng. Việc đưa xe buýt điện vào phục vụ học sinh là bước đi cụ thể, qua đó tạo cơ sở thực tiễn để từng bước mở rộng phương tiện xanh trong vận tải hành khách công cộng.

bqn_tl_word-2zoutu-4-658.jpg

Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt góp phần giảm phương tiện cá nhân, giảm áp lực giao thông và hướng tới phát triển đô thị xanh, bền vững.

Quảng Ninh có điều kiện để tổ chức lại mạng lưới xe buýt theo hướng kết nối các đô thị, trung tâm du lịch, khu công nghiệp, đầu mối giao thông và các khu dân cư tập trung. Những khu vực có mật độ dân cư cao, nhu cầu đi lại lớn và thường xuyên ùn tắc cần được ưu tiên nghiên cứu các tuyến xe buýt điện, qua đó từng bước hình thành mạng lưới giao thông công cộng xanh thay vì chuyển đổi phương tiện một cách dàn trải.

Cùng với phương tiện, hạ tầng phải đi trước một bước. Các điểm đầu cuối, bãi đỗ, nhà chờ, trạm sạc và các công trình phục vụ xe buýt cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch, bảo đảm khả năng vận hành ổn định của phương tiện điện. Đây cũng là yêu cầu cần được gắn với quá trình tổ chức không gian phát triển mới của tỉnh, để giao thông công cộng trở thành một bộ phận của cấu trúc đô thị chứ không phải hạ tầng bổ sung sau khi đô thị đã hình thành.

Theo định hướng tại Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh mà Chính phủ đã trình Quốc hội, nhóm dự án ưu tiên thứ nhất sau khi Quảng Ninh thành thành phố là phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và tăng cường liên kết vùng. Trọng tâm là đầu tư các tuyến giao thông đối ngoại, đường vành đai, trục chính đô thị, các tuyến kết nối khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, cửa khẩu quốc tế và các đầu mối giao thông quan trọng; đồng thời từng bước hoàn thiện hệ thống giao thông công cộng và các công trình phục vụ giao thông đô thị. Định hướng này mở ra không gian để Quảng Ninh tiếp tục nâng cấp vận tải hành khách công cộng theo hướng đồng bộ hơn: Từ mở rộng mạng lưới, hoàn thiện các đầu mối giao thông đến phát triển phương tiện xanh và hạ tầng phục vụ phương tiện xanh.

Một hệ thống xe buýt xanh, hiện đại cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng đô thị và hình ảnh điểm đến. Với một địa phương lấy du lịch, dịch vụ và phát triển đô thị làm những động lực quan trọng, phương tiện giao thông sạch không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà còn góp phần tạo dựng diện mạo văn minh, hiện đại. Khi phương tiện xanh được đặt trong một mạng lưới thuận tiện, có hạ tầng đồng bộ và chính sách hỗ trợ phù hợp, xe buýt sẽ có thêm cơ hội trở thành một lựa chọn thực sự cạnh tranh với phương tiện cá nhân. Đó cũng là nền tảng để Quảng Ninh giảm áp lực giao thông, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường và xây dựng không gian đô thị hiện đại, xanh hơn trong giai đoạn phát triển mới.

Bảo Bình

Có thể bạn quan tâm