Hành trình của Anh hùng lao động Hà Văn Hồng

Một buổi sáng đầu tháng 8/2026, Anh hùng Lao động (AHLĐ) ngành Than Hà Văn Hồng trở lại phòng truyền thống Công ty Xây lắp mỏ, nơi lưu giữ dấu tích một thời ông cùng đồng đội làm việc tại Xí nghiệp Xây lắp Mông Dương. 

Trước những bức ảnh đen trắng đã ngả màu thời gian, ông dừng lại khá lâu. Trong ảnh là những người thợ của mấy chục năm trước. Có người ông nhận ra ngay, có người phải nhìn thật lâu. Những gương mặt trẻ, gầy guộc nhưng rắn rỏi, giờ người đã nghỉ hưu, người không còn nữa. Những bức ảnh đưa ông trở về với những đường lò Mông Dương của gần nửa thế kỷ trước.

Tổ đào lò số 3, Công trường Xây lắp 6, Xí nghiệp Xây lắp Mông Dương.
Tổ đào lò số 3, Công trường Xây lắp 6, Xí nghiệp Xây lắp Mông Dương.

Ông Hà Văn Hồng là người dân tộc Thái, quê huyện Như Thanh, Thanh Hóa. Năm 17 tuổi, học hết lớp 7, ông được tuyển sang Ba Lan học nghề xây dựng mỏ. “Lúc ấy tôi cao 1,54m, nặng 45kg. Ở quê cũng chưa biết làm gì nên tôi quyết định đi”, ông kể.

Bốn năm ở Ba Lan, ông học tiếng, học nghề đào lò, cơ khí, điện và thực tập nghề mỏ. Năm 1973, ông về nước, được phân công về Công trường Xây lắp 6, Xí nghiệp Xây lắp Mông Dương. Khi ấy, Mông Dương còn hoang sơ; công trường làm nhiệm vụ đào lò xây dựng cơ bản rồi bàn giao cho bộ phận khai thác. Công việc nặng nhọc, vất vả, nguy hiểm. Nhiều người cùng học nghề ở Ba Lan chuyển sang công việc khác, còn ông chọn ở lại với nghề. “Tôi sinh ra ở nông thôn, từ nhỏ đã quen làm việc nặng; học nghề nào thì làm nghề ấy”, ông nói.

AHLĐ Hà Văn Hồng (phải) trò chuyện cùng cán bộ Công ty Xây lắp mỏ - TKV tại nhà truyền thống Công ty.
AHLĐ Hà Văn Hồng (phải) trò chuyện cùng cán bộ Công ty Xây lắp mỏ - TKV tại nhà truyền thống Công ty.

Năm 1978, ông được giao làm tổ trưởng tổ đào lò. Định mức khi ấy là 70m lò/tháng, ông nhận làm 100m, rồi mục tiêu nâng lên 110m. Để tăng năng suất, ông tính toán từ những việc cụ thể. Những thanh ray dài 8m khó vận chuyển trong đường lò được cắt đôi thành 4m. Thay vì tổ chức 3 ca, ông chia thành 4 kíp để tận dụng thời gian và sức lao động.

Cuối tháng, tổ đào được 107m lò, dù không đạt mục tiêu 110m do máy xúc hỏng vào ngày cuối, 107m vẫn là kỷ lục của tổ lúc ấy, đồng thời là kỷ lục trong ngành Than. Sau đó, những con số mới tiếp tục được xác lập. Năm 1983, có ngày tổ đào được 13,5m lò, trong khi nhiều tổ khác chỉ đạt 5-6m; có tháng đạt 172m lò. Khi chuyên gia Liên Xô sang hỗ trợ Mông Dương xây lò giếng đứng, ông chủ động quan sát cách làm, học hỏi rồi áp dụng vào công việc của tổ.

Những cải tiến ấy hôm nay có thể không còn xa lạ, nhưng trong điều kiện thiếu thốn khi đó, mỗi thay đổi đều đòi hỏi người thợ phải suy nghĩ, dám làm và biết tổ chức sức lao động hợp lý.

Ông Hà Văn Hồng (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng nghiệp của mình trong giờ giải lao.
Ông Hà Văn Hồng (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng nghiệp của mình trong giờ giải lao.

Điều ông Hà Văn Hồng nhớ nhất khi trở lại phòng truyền thống không chỉ là những con số, mà còn là đồng đội. Hơn 20 năm trực tiếp chui lò giúp ông hiểu rằng muốn một tổ sản xuất hoạt động hiệu quả, trước hết phải hiểu con người. Ông nhớ tính cách từng anh em, ai nóng tính, ai điềm đạm, ai khỏe, ai yếu hơn, ai làm nhanh, ai còn chậm để bố trí công việc phù hợp, hỗ trợ lẫn nhau.

Năm 1985, ở tuổi 33, Hà Văn Hồng được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, trở thành người đầu tiên của Mông Dương được phong tặng danh hiệu này. Nhưng ông chưa bao giờ xem đó là thành quả của riêng mình. “Thành tích, danh hiệu mà tôi đạt được cũng là công sức của tập thể, anh em trong tổ, trong xí nghiệp chứ không phải hoàn toàn cá nhân tôi”, ông nói.

Năm 1993, sau 20 năm làm tổ trưởng và nhiều năm trực tiếp chui lò, ông nghỉ hưu. Rời công việc sản xuất, ông vẫn ở lại Mông Dương và dõi theo sự đổi thay của ngành Than. Gần nửa thế kỷ trôi qua, ngành Than hôm nay đã thay đổi mạnh mẽ. Công nghệ hiện đại hơn, điều kiện làm việc và đời sống người thợ được cải thiện. Với ông Hồng, đó là niềm vui của một người từng đi qua những năm tháng gian khó.

“Công nghệ đào lò hôm nay hiện đại hơn trước rất nhiều, máy móc thay sức người, điều kiện làm việc cũng an toàn, thuận lợi hơn. Nhưng có một điều không thay đổi, đó là tinh thần kiên cường, chịu khó, dám vượt khó của người thợ xây lắp mỏ. Chính tinh thần ấy làm nên sức mạnh của nghề mỏ" - ông Hồng nhắn nhủ thế hệ trẻ Công ty Xây lắp Mỏ - TKV.

yu
AHLĐ Hà Văn Hồng (giữa) chia sẻ những ký ức về nghề với thế hệ trẻ Công ty Xây lắp mỏ - TKV.

Rời phòng truyền thống Công ty Xây lắp mỏ, những bức ảnh đen trắng vẫn nằm đó, lưu giữ những gương mặt của một thời. Ông Hà Văn Hồng trở về với cuộc sống bình dị ở Mông Dương. Những đường lò từng in dấu chân ông nay đã thành ký ức, nhưng ký ức về đồng đội, về nghề và những năm tháng tuổi trẻ vẫn còn nguyên giá trị.

Đó còn là câu chuyện về một thế hệ thợ mỏ đã đi qua gian khó bằng sức người, trí óc, tinh thần tổ chức và tình đồng đội. Từ những ký ức ấy, ông đặt niềm tin vào thế hệ trẻ - những người đang tiếp tục viết nên chặng đường mới của ngành Than Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm