Bồng bềnh câu hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long

Ca dao, dân ca Quảng Ninh đặc sắc và phong phú bởi được kết tinh từ sự đa dạng văn hoá các dân tộc với văn hoá công nhân mỏ và văn hoá biển, trong đó đặc sắc nhất vẫn là những làn điệu giao duyên. Bên cạnh các làn điệu hát đúm, hát nhà tơ thì hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long là loại hình tiêu biểu nhất trong kho tàng văn học dân gian vùng biển Quảng Ninh.

Lối hát mềm mại, mênh mang và trữ tình

Hát giao duyên trên biển là diễn xướng dân gian, thể hiện nét đặc sắc riêng của ngư dân Hạ Long. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, nhất là các dịp lễ hội. Không gian diễn xướng của các cuộc hát rất rộng mở, diễn ra trên biển, giữa các thuyền với nhau với lối hát mềm mại, chậm rãi pha chút mênh mang, trữ tình.

Phục dựng hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long.
Trình diễn hát giao duyên tại khu vực Cửa Vạn trên Vịnh Hạ Long.

Nhìn chung, ca từ (phần ca dao) của hát giao duyên có nội dung phong phú, chứa đựng kho tàng tri thức dân gian, phong tục tập quán và lễ hội của cư dân sông nước. Sắc thái biểu cảm của lời ca cũng đa dạng với nhiều cung bậc của cảm xúc khác nhau. Người hát như thể trải lòng mình với sóng nước mênh mông, hát để kết bạn, hát kết duyên vợ chồng.

Về phân chia thể loại, hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long có nhiều dạng thức, mỗi loại lại có những nét đặc sắc riêng và quen được gọi với cái tên là hát chèo đường. Hát chèo đường của dân chài còn gọi là hát gái hay hát đố, hát giảng, thực chất là loại hình hát đối đáp trong lúc chèo thuyền di chuyển trên mặt Vịnh Hạ Long.

Trình tự của một cuộc hát thông thường lúc đầu chỉ là từ hai con thuyền, sau xúm lại thành từng nhóm thuyền chia thành bên nam bên nữ. Vì tính chất đối đáp này nên được gọi chung là giao duyên.

Có những cuộc hát mê say kéo dài đến tàn trăng, tàn đêm chưa muốn dứt. Mở đầu cuộc hát bao giờ cũng là những lời chào hỏi, lời lẽ khiêm nhường, có phần nhún mình. Tiếp đến là những lời dò hỏi, tìm hiểu hoàn cảnh của bạn hát, chủ yếu là tìm được những người thật lòng mong kết bạn tình. Những câu hát dò hỏi này muôn màu muôn vẻ, từ xa đến gần, từ gần đến xa.

Hát chèo đường trên Vịnh Hạ Long là lối hát đối đáp, thường là hát tập thể giữa nam và nữ thường thấy ở các tục giao duyên khác ở Bắc Bộ.
Hát chèo đường trên Vịnh Hạ Long là lối hát đối đáp, thường là hát tập thể giữa nam và nữ thường thấy ở các tục giao duyên khác ở Bắc Bộ.

Sau đó, đôi bên phải trải qua một cuộc hát thử tài bằng những bài hát đố hát giảng, đủ các kiến thức trên trời dưới biển, từ thiên văn, địa lý đến vạn vật, đến sách vở, điển tích. Sau phần hát thử tài với hàng loạt bài hát đố hát giảng, trai gái mới thật sự xích lại gần nhau. Khi đã cầm được bàn tay, đôi bên thường trao gửi khăn, nón để giữ lại những gì gần gũi, thân thiết nhất của người yêu. Kết thúc cuộc hát đối là phần hát chia tay, hát giã bạn ra về… chan chứa tình yêu. Cũng có khi cuộc chia tay đầy tiếc nuối bởi vì nhiều lẽ, họ chẳng thể nên vợ nên chồng.

Sinh thời, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Tống Khắc Hài trong cuốn sách “Ca dao dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ Long” (NXB Hội Nhà văn 2016) của mình, đã nhận xét: Ở Vịnh Hạ Long, ngư dân cứ nối đời sống lênh đênh trên những con thuyền nhỏ, mọi thành viên đều tham gia sản xuất, bé thì gỡ cá, lớn lên một chút thì kéo lưới, thả câu... Mỗi con thuyền là một ngôi nhà, với không gian sống tách biệt. Từ cuộc sống lênh đênh ấy đã hình thành nên văn hoá của dân chài, trong đó có hát giao duyên rất độc đáo. Hát giao duyên với họ như một phương cách khẳng định sự tồn tại của mình. Hay cũng có thể nói, chính những lời ca tiếng hát đã kéo những con thuyền xích lại gần nhau... Thuyền này hát gọi, thuyền kia trả lời. Có khi chỉ cùng một luồng lạch khi đi hành nghề, vừa chèo vừa hát. Phải chăng vì thế mà có tên hát chèo đường?

Cuộc sống của ngư dân xưa bồng bềnh theo sóng nước và câu hát cũng bồng bềnh trên mặt Vịnh Hạ Long. Cũng theo nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài, tính trữ tình trong câu hát giao duyên của ngư dân Hạ Long còn “thăng hoa” bởi vẻ đẹp của thiên nhiên Vịnh Hạ Long. Chính những nét đẹp thơ mộng của Vịnh Hạ Long đã góp thêm cảm hứng trong câu hát và cho người hát. Môi trường sống của ngư dân trên Vịnh Hạ Long rất yên lành, ít sóng to gió lớn. Chính bởi như vậy, dân ca trên Vịnh không giống như hò biển ở những vùng sóng gió dữ dội, không có những âm điệu như kiểu “dô huề dô”.

Phong tục tập quán, tín ngưỡng cũng vậy, người ngư dân thờ thần sông, thần biển, thờ mẫu Thoải (mẫu Thuỷ cung), thờ các vị tướng có công với người dân biển. Lối sống và tín ngưỡng của dân chài trên Vịnh êm đềm chứ không dữ dội. Họ không có lễ mở cửa biển ào ạt, không có tục thờ cá Ông như ngư dân miền Trung, miền Nam. Do vậy, hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long cũng không bị ảnh hưởng của sóng gió đến mức mạnh mẽ như dân ca Nam Trung bộ, Nam bộ.

Tiết mục hát chèo đường của đoàn TP Hạ Long.
Tiết mục hát chèo đường được sân khấu hoá.

Về thể loại của hát chèo đường, có nhiều cách gọi tên như: Hát ví, hát véo, có người lại gọi là hát gái bởi nội dung quan trọng nhất là tìm bạn gái để giao duyên. Còn có người gọi hát đố và hát giảng.

Có nhà nghiên cứu lại gọi hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long là hò biển bởi mở đầu các câu hát là tiếng “ơ hò”. Tuy nhiên, hò biển trên Vịnh Hạ Long chậm rãi, mênh mang, tha thiết gợi cảnh, gợi tình, đúng là tiếng gọi của tình yêu đôi lứa chứ không mạnh mẽ như hò ở vùng biển miền Trung, hay hò sông Mã (Thanh Hoá). Bài ca sau đây đã nhiều lần được Nhà hát nghệ thuật Quảng Ninh cũng như Trung tâm Văn hoá tỉnh (trước đây) nhiều lần dàn dựng sân khấu hoá là một ví dụ: “Ơ hò…! Trên mây sa, dưới hòn Gà Chọi/ Anh hát câu này anh gọi nàng ra/ Những lời nàng hát đêm qua/ Hôm nay hát nữa cho ta hát cùng/ Hát cho con gái có chồng/ Con trai có vợ, nạ dòng có con. Ơ hò…”.

Một loại hình cũng khá phổ biến và cũng nằm trong phạm trù hát giao duyên là hát đúm. Về nguồn gốc, có lẽ, những ngư dân ở vùng làng đảo Hà Nam trong khi đi đánh cá đã mang những câu hát này ra Vịnh Hạ Long. Vì cũng là hát giao duyên nên hát đúm giao thoa với hát chèo đường mềm mại của sóng nước Hạ Long.

Hơn chục năm trước, người viết bài này có dịp được cụ Nguyễn Văn Hưu ở làng chài Cửa Vạn cho xem một tập bài hát cụ chép tay khi đi hát đúm trên biển. Cụ Hưu tự hào kể rằng, thuở trai trẻ, cụ đã đem những bài hát này cùng đám thanh niên sang vùng biển Vân Đồn hay làng đảo Hà Nam để hát đối tìm bạn tình. Có khi gặp bạn tri kỷ, mọi người cùng hát đến thâu đêm, suốt sáng.

Cụ Nguyễn Văn Hưu trong một lần truyền dạy hát giao duyên cho lớp trẻ.
Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Hưu trong một lần truyền dạy hát giao duyên cho lớp trẻ.

Lời hát đúm chép tay của cụ Hưu có nhiều bài rất giống với lời hát đúm ở vùng làng đảo Hà Nam hôm nay. Về câu chữ, mỗi bài cũng đều bắt đầu và kết thúc bằng câu chêm xen, đưa đẩy: “Duyên kết bạn mình ơi” hoặc “Duyên kết bạn tình ơi”. Còn nếu chép ra những bài hát đúm và hát chèo đường bỏ qua câu chêm xen đưa đẩy thì giống gần như nhau. Lời hát đều là câu lục bát nhưng chỉ khác nhau ở độ nhấn nhá, luyến láy của người hát.

Tình yêu quê hương tha thiết

Không chỉ là những lời ca đằm thắm về tình yêu người, hát giao duyên còn thể hiện tình yêu nghề, yêu biển cả, yêu quê hương của những người ngư dân xưa: "Rằng duyên kết bạn tình ơi!/ Quê hương sơn thuỷ hữu tình/ Hội hè vui vẻ cảnh tình vui tươi/ Dập dìu trai gái chơi bời/ Trước thời chơi hội sau thời chơi xuân/ Hội long vân tương phùng kỳ ngộ/ Gặp em đây than thở mấy lời/ May thay cá nước duyên giời/ Xui cho anh gặp được người cố tri".

Vì tính chất gắn bó chặt chẽ với nghề biển và không gian biển nên hát giao duyên là một hình thức sinh hoạt cộng đồng riêng biệt ở vùng biển Quảng Ninh khi địa điểm diễn ra thường là trên những chiếc thuyền nan. Ngày xưa, người làng chài đi thuyền thường mượn câu hát để chào hỏi nhau, đố vui nhau để cùng xua đi cái mệt nhọc của việc đánh cá trên biển.

Đôi khi chỉ là một lúc nghỉ ngơi sau những giờ buông lưới vất vả, cũng có khi là những lúc chờ đợi đến giờ ra khơi... Giữa vùng non nước biếc xanh, thuyền này hát thuyền kia đáp lời. Cứ thế những người dân vùng biển gắn kết, gần gũi với nhau tạo thành một cộng đồng chặt chẽ: “Thuyền anh trong Vịnh mới ra/ Thuyền em ở dưới Vạn Hoa mới về/ Song song đôi chiếc thuyền kề/ Chiếc đi Bãi Cháy, chiếc về Tuần Châu/ Hẹn chàng sáng sớm hôm sau/ Có lên em đón Bồ Nâu, hang Luồn?”.

Biểu diễn hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long phục vụ du khách.
Biểu diễn hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long phục vụ du khách. (Ảnh chụp trước tháng 8/2024)

Tương tự, trong rất nhiều bài hát khác, người nghe dễ dàng bắt gặp các nghệ nhân dân gian đã rất khéo đưa vào lời hát nhiều tên đất, tên làng của vùng quê, điều này vừa thể hiện bản sắc quê hương vừa giúp hát đúm khó bị lẫn, hoặc bị lai tạp vào các vùng khác: “Em là con gái Hạ Giang/ Quê hương Giang - Trúc xã là Thành Công/ Nhà ở tứ hướng bên sông/ Cha mẹ song thọ đang mong chờ người/ Nghề nghiệp làm cá biển khơi/ Quanh năm vất vả lưới chài nhọc thân”. 

Dù bằng cách hát giản dị, mộc mạc, không cần nhạc đệm nhưng những câu hát luôn chứa đựng hàm lượng tri thức lớn về cuộc sống, thiên nhiên, quê hương mà mình đang sống. Ở đó, tình cảm cá nhân đã hoà quyện chặt chẽ vào tình yêu quê hương. Hay nói khác đi, chính không gian biển cả, không gian bồng bềnh của những con thuyền đã kéo nam nữ lại gần nhau, xui khiến họ nên duyên: "Thuyền nào mà véo mà von/ Trời còn chưa tối, đầu non trăng mờ/ Có lòng thì đợi thì chờ/ Có lòng nhớ bến, thương bờ thì neo/ Thuyền anh neo đã thả rồi/ Thương bờ nhớ bến đứng ngồi không yên/ Vì tình, vì nghĩa, vì duyên/ Ước gì chung một mạn thuyền đêm nay".

Tuy nhiên, để được "chung một mạn thuyền" với bên nữ, bên nam phải trải qua một cuộc hát thử tài bằng những bài hát đố, hát giảng, đủ các kiến thức trên trời dưới biển, từ thiên văn, địa lý đến vạn vật, đến sách vở, điển tích. Không chỉ thử thách tài ứng đối, những phần hát đố, hát giảng và hát hoạ thể hiện rõ rất tình yêu quê hương. Lý do là bởi ở đó, các nghệ nhân đã rất khéo đưa vào lời hát nhiều tên đất, tên làng của vùng quê biển Hạ Long hay rộng hơn là quê hương Quảng Ninh xưa. Điều này vừa thể hiện bản sắc quê hương vừa giúp lối hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long khó bị lẫn, hoặc bị lai tạp vào các vùng khác.

Từ nhiều năm trước, loại hình hát giao duyên đã để lại ấn tượng sâu sắc cho khách du lịch thăm quan Vịnh Hạ Long. Vậy nhưng, thời gian qua, việc trình diễn hát giao duyên phục vụ khách du lịch bị gián đoạn. Những nghệ nhân hát giao duyên cũng ngày càng thưa vắng vì lý do tuổi tác.

Để bảo tồn những nét độc đáo, đặc sắc đó, trước đây, hát giao duyên đã được sưu tầm, lưu giữ thông qua Dự án “Phục dựng, bảo tồn và phát huy một số giá trị văn hoá dân gian của ngư dân làng chài Cửa Vạn (Vịnh Hạ Long)”, thành lập một đội hát giao duyên, tổ chức những lớp tập huấn, triển khai tập luyện tại Trung tâm Bảo tồn Vịnh Hạ Long 2. Trước đây, một số tác giả đã quan tâm sưu tầm nghiên cứu xuất bản sách như: Tác giả Vũ Thị Gái có sách “Ca dao dân ca vùng biển Quảng Ninh”, nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài có cuốn “Ca dao dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ Long”, các tác giả Cao Đức Bình và Hoàng Quốc Thái in chung cuốn sách “Di sản văn hoá làng chài Vịnh Hạ Long”.

Tuy nhiên, các cuốn sách nói trên hoặc chưa đề cập trực diện hoặc chưa đưa ra những giải pháp cụ thể để bảo tồn hát giao duyên. Thêm nữa, trong công tác bảo tồn phát huy giá trị đặc sắc của hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long, có vẻ như mối liên hệ giữa các cơ quan, tổ chức và các nhà sưu tầm nghiên cứu chưa thật chặt chẽ. Thông tin thật đáng mừng là trong tháng 3/2026, hát giao duyên  trên Vịnh Hạ Long sẽ chính thức được khôi phục trở lại tại khu vực làng chài Cửa Vạn sau thời gian tạm gián đoạn để rà soát, củng cố và hoàn thiện các điều kiện tổ chức. 

Có thể bạn quan tâm